Bách khoa trong nhịp đập trái tim người thầy Khóa Không
- Thứ ba - 18/08/2026 05:30
- In ra
- Đóng cửa sổ này
GS. Thái Thanh Sơn ở tuổi 92
Mỗi khi hồi tưởng về hành trình bảy thập kỷ ấy, trong lòng vị GS. Toán Bách khoa lại trào dâng những cảm xúc khó tả, giống như đang lật giở từng trang của một cuốn sử thi hào hùng, đầy ắp những ân tình và cả những thăng trầm chưa từng được kể hết.
Nhìn lại danh sách 28 người năm ấy, GS. Thái Thanh Sơn không khỏi bùi ngùi khi biết rằng chỉ còn ông và PGS. Kim Cương là còn hiện hữu trên cõi đời này nhưng thầy Kim Cương từ lâu đã chọn cách sống khá khép kín, hầu như rất ít tham gia các hoạt động chung.
Một tiểu sử sôi động
Cuộc đời của GS. Thái Thanh Sơn có những nét đặc biệt từ thuở nhỏ. Mẹ ông là giáo viên tại một trường Pháp dành riêng cho con em các gia đình người Pháp sang Việt Nam công tác. Nhờ đó, từ năm 3 tuổi, cậu bé Thanh Sơn đã được gửi vào nhà trẻ Pháp, tập nói và tập khóc bằng tiếng Pháp. Với ông, tiếng Pháp gần như là ngôn ngữ mẹ đẻ, còn tiếng Việt sau này mới chính thức được học như một ngoại ngữ thứ hai dưới sự dẫn dắt của một cô giáo người Pháp lai khi ông lên cấp hai.
Ngoài ngôn ngữ, văn hóa Pháp và Hán học được học từ bé, thầy Sơn hoàn toàn tự học và sử dụng tốt nhiều thứ tiếng nước ngoài. Thầy viết sách báo, đọc báo cáo khoa học, trực tiếp giảng dạy ở nhiều quốc gia sử dụng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc.
Không chỉ giỏi ngoại ngữ, thầy Sơn còn có năng khiếu cả với… “nội ngữ”!
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thầy Sơn theo cha - khi đó là một cán bộ công tác tại Bộ Tài Chính của chính phủ kháng chiến - lên chiến khu Việt Bắc. Trong an toàn khu dành cho cán bộ, thầy được gửi sống tại nhà dân, cùng ăn cùng ở với bà con người Tày ở Cao Bằng, Trùng Khánh. Tại đây, thầy Sơn học tiếng Tày vừa trực tiếp với người dân, vừa học chính quy. Thế nên thầy không chỉ biết nói tiếng Tày - Nùng mà còn biết đọc và biết viết chữ Alphabet của người dân tộc Tày qua những cuốn SGK tiểu học. Vốn liếng ngôn ngữ phong phú từ Tây sang Đông này đã biến GS. Thái Thanh Sơn trở thành một nhân vật đặc biệt của Bách khoa sau này.
Những bước chân đầu tiên và ký ức về người MỞ ĐƯỜNG
Thầy Sơn kể: “Ngay từ những năm sau chiến dịch biên giới thắng lợi, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu chuẩn bị đào tạo nguồn cán bộ cho các trường đại học - nhất là các trường đại học kỹ thuật sẽ được thành lập sau khi hòa bình lập lại.
Năm 1952, tôi là một trong số những người may mắn được Nhà nước cử đi học bậc đại học tại Dục tài học hiệu - trường bồi dưỡng tài năng đặt trong Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), để khi trở về sẽ tham gia giảng dạy ở các trường đại học.
Chúng tôi làm việc quên mình để kịp tổ chức kỳ thi tuyển sinh đón những sinh viên đầu tiên vào tháng 10 cùng năm. Thầy Trần Đại Nghĩa - vị Hiệu trưởng đầu tiên của Bách khoa - với uy tín của mình về nhiều mặt - đã dựng ngọn cờ tri thức để tập hợp những trí thức đất nước thời đó. Thầy Nghĩa là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp kiêm nhiệm nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, vì vậy công việc điều hành thực tế tại trường chủ yếu do ông Hoàng Xuân Tùy đảm nhiệm nhưng dấu ấn của thầy Trần Đại Nghĩa đối với chúng tôi vô cùng sâu sắc…”.
Người thầy DẪN LỐI
GS. Sơn nhớ mãi những Chủ nhật đến nhà thầy Bửu tại số 32 Hoàng Diệu để nhờ duyệt lại các bài báo khoa học tiếng Pháp, tiếng Anh chuẩn bị gửi đăng hoặc cùng thảo luận về các vấn đề mới trong toán học như lý thuyết toán tử, lý thuyết tai biến... Khu nhà của thầy Bửu sát khu nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giữa hai nhà chỉ có một bờ rào thấp với chiếc cổng nhỏ để hai gia đình đi lại thông nhau. GS. Sơn luôn kính phục khả năng tự học và làm việc bền bỉ của thầy Bửu. Ông kể rằng thầy Bửu luôn tranh thủ đọc sách chuyên môn trên ô tô trong mỗi chuyến công tác, bởi đó là lúc thầy thấy tâm mình bình lặng nhất.
Trong những dịp hiếm hoi đi công tác nước ngoài thời đó, ngoài công vụ chính, thầy Bửu luôn luôn quan tâm đến học thuật ở các nước bạn. Như trong một chuyến công tác ở Bắc kinh, thầy Bửu tìm được tập sách quý Teoria Abtomatov bằng tiếng Nga mới xuất bản, bày bán tại một quầy sách không thấy ai hỏi đến, thầy mua về giao cho thầy Sơn và GS. Phan Đình Diệu (lúc đó cũng là một giảng viên đại học trẻ mới ra trường) tổ chức thuyết trình trong một seminar về Lý thuyết Ô-tô-mát do Thầy chỉ đạo. Trên trang đầu quyển sách, thầy tự tay ghi 2 câu:
Chợ Tết chiều Xuân, một buổi nhàn…
“Giải được một bài toán khó do người khác ra cho mình đã là một điều khó khăn và rất đáng quý. Nhưng nếu qua đòi hỏi của thực tiễn, tự mình tìm ra một bài toán, để rồi tự giải được bài toán đó của mình và cho mình thì lại càng khó khăn và đáng quý hơn nữa.
Việc nghiên cứu Toán học ở Việt Nam đã có từ khá lâu trước khi trường Bách khoa ra đời, và cho đến nay cũng đã có một vài người Việt Nam có được một vài công trình nghiên cứu Toán học có giá trị tầm cỡ thế giới. Nhưng đó toàn là những nghiên cứu có tính chất lý luận hoặc là những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn của những đất nước khác.
Những lĩnh vực đó vẫn đang được tiếp tục phát triển trong giới Toán học trẻ Việt Nam, chủ yếu ở các Trường Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp... Thế nhưng, nghiên cứu Toán học ở Bách khoa các cậu cần phải có xu hướng khác đấy: Đó là xu hướng thiên về nghiên cứu ứng dụng”.
- Chỉ đạo viên: Thầy Hoàng Tuỵ
- Tổ trưởng: Thầy Thái Thanh Sơn, Đại học Bách khoa Hà Nội
- Phó Tổ trưởng: Thầy Nguyễn Công Thuý, Đại học Tổng hợp
Ban Chỉ đạo của Tiểu ban có sự tham gia cấp Thứ trưởng của Ủy ban Khoa học Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Lương thực - Thực phẩm, Bộ Nông nghiệp… và một số địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương… Thầy Hoàng Tuỵ trực tiếp làm Trưởng Tiểu ban. Thầy Thái Thanh Sơn cùng thầy Nguyễn Quang Thái (sau này là GS, Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam) được cử làm Phó Trưởng Tiểu ban.
Chính những hoạt động mạnh mẽ và có hiệu quả trong lĩnh vực Toán học ứng dụng như thế đã mang đến cho tổ Toán Đại học Bách khoa Hà Nội phần thưởng cao quý là danh hiệu “Tổ Lao động Xã hội chủ nghĩa ngành Giáo dục” năm 1963.
Đặc biệt, trong trận lụt thế kỷ năm 1971, trên công trường đắp đê Cống Thôn, Tổ công tác Vận trù học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội do GS. Sơn phụ trách đã được đích thân Phó Thủ tướng Đỗ Mười đề nghị tham gia vào Ban Tham mưu của Công trường, đánh giá rất cao hiệu quả công tác và báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ khen thưởng.
Khúc tráng ca Khu C và những ân tình giữa đại ngàn
Quãng thời gian sơ tán tại Khu C trong những năm kháng chiến chống Mỹ được GS. Thái Thanh Sơn gọi là “khúc tráng ca” của Bách khoa.
Khi chiến tranh lan rộng, Mỹ bắt đầu ném bom huỷ diệt ra miền Bắc, Nhà nước có chủ trương sơ tán các trường đại học ra khỏi Hà Nội. Ban đầu, trong những năm 1967 – 1968, Trường Bách khoa cũng như các trường đại học khác sơ tán về các khu B ở vùng ven: Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên… Thầy - trò sống nhờ nhà dân, lớp học thì học nhờ tại các nhà kho, đình miếu … hoặc trụ sở HTX nông nghiệp.
Đối với các trường khác như vậy là tạm ổn. Thế nhưng ở Đại học Bách khoa, ngoài các học phần lý thuyết, từ năm thứ hai có một khối lượng lớn môn thực hành, thực tập đòi hỏi CSVC: Phòng thí nghiệm, xưởng thực tập… và phải có điện! Những yêu cầu này không thể thực hiện vì xây dựng một khu vực có máy móc thiết bị tập trung như vậy rất dễ thành mục tiêu đánh phá của địch.
Nhưng Nghị quyết của Đảng bộ khi đó có đề ra là: “Trong bất kỳ hoàn cảnh, tình huống nào, phải đảm bảo công tác giảng dạy và đào tạo không suy giảm về khối lượng và chất lượng, sẵn sàng cung cấp những cán bộ kỹ thuật cao cấp cho cuộc chiến trước mắt và cho công cuộc tái thiết đất nước sau này”.
Hiệu trưởng Bách khoa hồi đó - thầy Hoàng Xuân Tùy - do thời gian công tác lâu dài trong quân đội ở vùng Tây Bắc và Việt Bắc, lại có vợ là bà Song Ninh - người dân tộc Tày, vì vậy rất am hiểu về vùng núi rừng phía Bắc - đã chủ trương đưa toàn bộ Trường lên vùng sâu ở biên giới phía Bắc, dọc theo con sông Kỳ Cùng để xây dựng một cơ sở đào tạo khá hoàn chỉnh, khang trang và tương đối độc lập, ít phụ thuộc vào dân.
Nhờ khả năng nói tiếng Tày trôi chảy nên dù GS. Sơn đang phụ trách đoàn cán bộ biệt phái sang Học viện Kỹ thuật quân sự, thầy Hiệu trưởng Hoàng Xuân Tuỳ vẫn đề nghị Bộ Quốc phòng và Bộ Đại học cho rút GS. Sơn về tham gia tổ tiền trạm của Bách khoa lên Lạng sơn chuẩn bị cho việc thành lập Trường Văn hoá Hà Huy Tập.
Từ đó GS. Sơn trở thành cầu nối quan trọng giữa Bách khoa và địa phương. Sau một thời gian tiếp xúc và làm việc, bà con dân tộc Tày - Nùng ở Lạng Sơn đã dành cho ông một sự tin yêu tuyệt đối. Do GS. Sơn sử dụng ngôn ngữ dân tộc nhuần nhuyễn nên bà con hiểu nhầm và thường tự hào bảo nhau rằng thầy giáo này là “người Tày ta mà lại dạy học trò người Kinh”!
Khu C cũng là nơi chứng kiến những câu chuyện tình cảm hồn nhiên của những người trí thức trẻ. Chính tại vùng rừng núi ấy, ông đã gặp và yêu người vợ hiện tại - khi đó là một nữ sinh khóa 12 ngành Vô tuyến vào trường năm 1967. Những bức thư tay, những cân đường hay hộp bánh bích quy gia đình sinh viên nhờ các thầy mang từ hậu phương lên đã biến các thầy thành “shipper đường dài” và cũng một số trường hợp đã trở thành những sợi dây gắn kết tình yêu.
Thời gian này tại đây cũng có những câu chuyện dở khóc dở cười, như trường hợp một bạn đồng nghiệp Toán học của ông suýt bị một cô gái Tày “bắt rể”, chỉ vì vô ý vẽ hình hoa hồng trang trí đẹp mắt trên một phong thư rồi trao tặng cho cô gái, anh giáo viên trẻ đã vô tình thực hiện đúng tục lệ ngỏ lời của địa phương. Thầy Sơn đã phải đóng vai “cố vấn” để giải quyết vụ việc, giúp người bạn chuyển công tác từ Na Sầm lên Thất Khê, tránh việc bị nhà gái bắt vạ! (Phải đền em một con trâu chàng ơi!)
Những chi tiết ấy khắc họa một Bách khoa đầy sức sống với khoa học và đời thường hòa quyện vào nhau một cách kỳ diệu. Tình cảm của người dân nơi đây đối với Bách khoa rất bền chặt. Những anh bí thư đảng ủy, chủ tịch xã khi GS. Sơn và cán bộ, sinh viên Bách khoa lên thăm sau này, vốn là thế hệ chỉ mới được sinh ra sau khi Bách khoa đã rời đi, nhưng họ vẫn mang một niềm tự hào mãnh liệt về việc ngôi trường lớn nhất miền Bắc đã từng đóng chân tại mảnh đất quê hương mình, như là một bộ phận thân thiết của bản làng mình: “Mấy đứa Bách khoa bản tôi!”.
Những năm xa Bách khoa
Năm 1966, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết liệt, Nhà nước quyết định thành lập một trường đại học kỹ thuật quân sự, ban đầu lấy bí danh là “Phân hiệu 2 Đại học Bách Khoa”. Bộ khung lãnh đạo từ cấp trường, Khoa, Bộ môn... đều được Bộ Quốc phòng chọn lựa, phân công trách nhiệm theo cấp bậc. Sinh viên năm thứ nhất tuyển chọn trong số bộ đội tốt nghiệp trung học khá giỏi, mới nhập ngũ vài năm và còn ra lệnh “động viên” cả một khoá sinh viên Vô tuyến điện Đại học Bách khoa khoá 9 sang tiếp tục học năm thứ 2 ở phân hiệu. Cơ sở trường lớp thì lúc đó vẫn tạm sơ tán nhờ trong dân như các trường đại học khác… Cái thiếu và khó duy nhất lúc đó là… thầy.
Ở tuổi 32, theo mức lương hiện hưởng ông được chuyển sang cấp quân hàm Thiếu tá. Ông nhớ lại những ngày nhận thêm phụ cấp quân đội là những cân đường và hộp lương khô và cái phiếu cung cấp mấy lít xăng hàng tháng cực kỳ quý giá!
Trong mấy năm công tác, đoàn cán bộ biệt phái Bách khoa đóng góp rất lớn vào công tác giảng dạy và quản lý đào tạo tại Học viện, đặt nền móng cho việc thực hiện thành công một số đề tài ứng dụng Toán học trong các lĩnh vực như quốc phòng, giao thông, quân sự…
Từ năm 1980, Nhà nước chủ trương cử chuyên gia giáo dục đại học đi làm việc tại một số nước châu Phi như một cách đền đáp nghĩa tình quốc tế. Thầy Sơn lại được Bộ Đại học cử làm Trưởng Đoàn chuyên gia ở Madagascar trong nhiệm kỳ 1982-85. Đoàn có 26 người, có cả chuyên gia giáo dục đại học và chuyên gia y tế. Với những đóng góp xuất sắc của mình cho nước bạn trong giảng dạy và NCKH, thầy Thái Thanh Sơn được Tổng thống Madagascar trực tiếp gặp mặt, đánh giá rất cao những cống hiến của thầy. Tổng thống đề xuất với Hội đồng Khoa học Đại học Bách Khoa Antananarivo đặc cách phong hàm GS. thực thụ (Professeur titulaire de chaire) cho thầy Sơn năm 1984.
Vì vậy, thầy đã đăng ký và trong vòng 6 tháng đã bảo vệ xuất sắc thành công luận án Tiến sĩ. Đây cũng là điều đặc biệt ở GS. Thái Thanh Sơn. Thầy là người duy nhất bảo vệ luận án Tiến sĩ sau khi đã được phong học hàm GS ở nước ngoài và PGS trong nước. Năm 2001, đến tuổi nghỉ hưu, Thầy được Chính phủ quyết định đặc cách nâng lên ngạch GS - Giảng viên Cao cấp bậc cao nhất.
Hạt gạo nghĩa tình và bản sắc người Bách khoa trong gian khó
Năm 1986, đất nước trong thời kỳ bao cấp vô cùng khó khăn. Mà sắp đến Tết, gạo nếp trên thị trường rất hiếm, nếu có thì lương cán bộ công nhân viên không thể mua nổi!
Hồi thầy Sơn công tác tại Bộ Tư lệnh Quân khu 9 ở Cần Thơ trong đề tài ứng dụng Toán học tối ưu hoá một số hệ thống bố phòng biên giới cho quân đội, thầy thấy gạo miền Tây bán tự do vừa ngon vừa rẻ. Bản thân là một cán bộ trong Thường vụ, Phó Chủ tịch Công đoàn Trường, thầy Sơn suy nghĩ tìm phương án gạo Tết cho toàn thể hơn 2.000 cán bộ công nhân viên Bách khoa.
Thầy Sơn cùng một cán bộ công đoàn Bách khoa khác là thầy Đoàn Phú trao đổi, tìm phương án rồi báo cáo Thường vụ Công đoàn, thống nhất chủ trương với lãnh đạo Trường. Nhà trường và Công đoàn thống nhất “ Biếu quà Tết” cho mỗi người trong tổng số 2.000 cán bộ công nhân viên được 10 cân gạo nếp và 10 cân gạo tẻ ngon.
Mấy ngày trước khi đoàn tàu về đến ga Giáp Bát, nhiều gia dình đã cử người thay nhau “tình báo” xem khi nào thì “Gạo ông Sơn, ông Phú” về. Suốt mấy ngày sau đó, cửa hàng “Hợp tác xã” của Công đoàn hoạt động hết công suất 3 ca/ngày để phát quà cho đoàn viên.
Câu chuyện “gạo Công đoàn, gạo ông Sơn, ông Phú” đã trở thành một kỷ niệm ấm lòng về sự sáng tạo, sẻ chia lúc khó khăn của người Bách khoa. Những hạt nếp thơm tho, gạo tẻ trắng ngần ấy không đơn thuần là lương thực, chúng là biểu tượng của tình đồng chí, của sự xoay xở và đùm bọc lẫn nhau vượt qua thiếu thốn. GS. Thái Thanh Sơn vẫn luôn tự hào rằng đó là một trong những việc làm nhỏ bé nhưng mang lại niềm vui lớn nhất cho hàng nghìn con người Bách khoa, minh chứng cho tinh thần “Bách khoa là nhà”.
Bách khoa trong tâm khảm GS. Thái Thanh Sơn còn là một thực thể khổng lồ đã từng sẻ chia sự sống cho nhiều ngôi trường khác. Từ Bách khoa đã hình thành nên Trường Đại học Thủy lợi, Trường Đại học Mỏ - Địa chất và Trường Đại học Xây dựng.
Dưới sự lãnh đạo của thầy Hiệu trưởng Hoàng Trọng Yêm vào khoảng năm 1990 - 1992, Bách khoa đã thực hiện một cuộc thí nghiệm táo bạo khi tổ chức thành 5 trường nhỏ bên trong. ( Thực chất là hướng đến mô hình Đại học như hiện nay). GS. Thái Thanh Sơn khi ấy giữ chức Giám đốc Trường Đại học Đại cương, quản lý toàn bộ sinh viên 2 năm đầu. Dù mô hình này chỉ tồn tại 2 năm, nhưng đây vẫn là một minh chứng cho tinh thần đổi mới không ngừng của người Bách khoa.
Ở tuổi 92 , GS. Sơn luôn theo dõi tình hình quản lý giáo dục đại học hiện nay. Giá trị Bách khoa, theo ông, nằm ở cái “chất” con người, ở sự nể trọng của thế giới khi nhìn vào tấm bằng tốt nghiệp của sinh viên, điều mà không tiền bạc hay thế lực nào có thể mua được.
Ngọn lửa truyền nối và di sản cho hậu thế
Phong độ làm việc của ông ở độ tuổi U100 cho thấy cho một tinh thần tự học không ngừng nghỉ, một phẩm chất quý báu mà ông đã học được từ người thầy - GS. Tạ Quang Bửu.
Những kỷ vật trong nhà ông, từ những đồ kỷ niệm thời ở Quân khu 5 đến hàng nghìn cuốn sách ngoại văn mà ông đã tặng lại cho Trung tâm Di sản các nhà khoa học đều cho thấy một cuộc đời tận hiến. Ông tặng sách vì lo sau khi mình nằm xuống, tài sản trí tuệ cả đời tích lũy sẽ bị rơi rụng.
Bách khoa trong lòng vị giáo sư già không phải là những khối bê tông hay những phòng thí nghiệm khô khan. Đó là gương mặt của những người thầy vĩ đại mà thân thương như thầy Trần Đại Nghĩa, thầy Tạ Quang Bửu, thầy Hoàng Xuân Tùy…; là tiếng cười rộn rã bên nồi sắn luộc Khu C; là mùi hương thơm ngát của những hạt gạo miền Tây nghĩa tình...
Với GS. Thái Thanh Sơn, Bách khoa sẽ mãi là nơi tình yêu và niềm tự hào bắt đầu, một ngọn hải đăng của tri thức luôn rực sáng giữa dòng chảy lịch sử của dân tộc. Bảy thập kỷ trôi qua, ngọn lửa từ 28 con người đầu tiên ấy vẫn đang được ông nâng niu, sẵn sàng trao lại cho những bàn tay kế cận với tất cả niềm tin yêu và kỳ vọng vào một tương lai rạng rỡ hơn nữa của Đại học Bách khoa Hà Nội.
Bắt tay tiễn chúng tôi ra về, GS. Thái Thanh Sơn khẽ ngâm 2 câu thơ, muốn nói lên nỗi lòng sâu lắng của mình với Đại học Bách khoa Hà Nội: