Đại học Bách khoa Hà Nộihttps://hust.edu.vn/uploads/sys/logo-dhbk-1-02_130_191.png
Thứ tư - 16/09/2026 21:15
Hơn ba thập niên gắn bó với Đại học Bách khoa Hà Nội (1957-1995), GS. Nguyễn Nguyên Phong thuộc thế hệ những nhà giáo, nhà khoa học trực tiếp tham gia xây dựng ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam, góp phần đặt nền móng cho đào tạo Vật lý hạt nhân của đất nước nói chung và Đại học Bách khoa Hà Nội nói riêng.
Trong dòng chảy 70 năm Đại học Bách khoa Hà Nội, câu chuyện về những cống hiến to lớn của những người thầy đi trước là nét chấm phá tự hào trong di sản truyền thống Bách khoa, là nguồn động lực vô giá truyền lửa cho các thế hệ sau tiếp bước.
Bản lĩnh Bách khoa qua những "chiến dịch" đặc biệt
Sinh năm 1938, GS. Nguyễn Nguyên Phong thuộc thế hệ cán bộ giảng dạy Vật lý đầu tiên của Đại học Bách khoa Hà Nội. Được cử đi thực tập tại Liên Xô (1961-1963) và sau đó làm cộng tác viên khoa học tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna (1966-1970), được biết đến như "thánh địa" của vật lý hiện đại thời bấy giờ. Năm 1970, thầy Phong tiếp thu những nền tảng tri thức tiên tiến nhất để trở về xây dựng bộ môn Kỹ thuật Hạt nhân của Đại học Bách khoa Hà Nội.
GS. Nguyễn Nguyên Phong (hàng đầu, thứ ba từ phải sang) và các cựu giáo chức, cán bộ ngành Kỹ thuật Hạt nhân, Khoa Vật lý Kỹ thuật
Bản lĩnh của các nhà khoa học Bách khoa thời kỳ đó không chỉ thể hiện trên bảng đen hay trong phòng thí nghiệm, mà còn ở khả năng giải quyết những bài toán kỹ thuật cấp thiết của đất nước. Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, GS. Nguyễn Nguyên Phong cùng các đồng nghiệp Bách khoa như GS. Vũ Đình Cự, PGS. Nguyễn Xuân Chánh... đã tham gia nghiên cứu và hoàn thành xuất sắc đề tài "Phá thủy lôi từ tính và bom từ trường", công trình được Đảng và Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một vào dịp kỷ niệm mừng Quốc khánh 2/9/1996.
Những năm 1970-1976, nhận thức được tầm quan trọng của các công nghệ kiểm tra hiện đại, GS. Nguyễn Nguyên Phong cùng nhóm chuyên gia Bộ môn Kỹ thuật Hạt nhân và Vật lý môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội đã trở thành những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu và triển khai ứng dụng Kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) sử dụng bức xạ gamma và tia X.
Khi các nhà máy nhiệt điện ở Miền Bắc liên tục bị bom Mỹ phá hoại, chính các thầy giáo Bách khoa đã mang thiết bị NDT ra hiện trường để kiểm tra mối hàn, vết nứt tua-bin, đảm bảo dòng điện không bị gián đoạn. Công nghệ NDT tiên phong ấy tiếp tục được ứng dụng vào công trình trọng điểm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và soi kiểm tra mối hàn đường ống dẫn nước cao áp và trục tuốc-bin của Nhà máy Thủy điện Đa Nhim trong kế hoạch khôi phục gấp nhà máy đã bị hư hại trong chiến tranh.
GS. Nguyễn Nguyên Phong (thứ hai từ phải sang) và các đồng nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội năm xưa. Ảnh: Sưu tầm
Những bước chân tiên phong ấy không chỉ giúp khôi phục các công trình kinh tế then chốt, mà còn tạo tiền đề để GS. Nguyễn Nguyên Phong đề xuất dự án viện trợ kỹ thuật từ Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) cho Đại học Bách khoa Hà Nội, đồng thời vận động thành lập Hội NDT Việt Nam (Hội Khoa học kỹ thuật Thử nghiệm không phá hủy Việt Nam) năm 1998, một tổ chức kỹ thuật hiện nay đã phát triển mạnh mẽ, phục vụ khắp các ngành giao thông, xây dựng, cơ khí và chế tạo máy toàn quốc.
Góp phần gia tăng năng lực Lò phản ứng Đà Lạt
Năm 1976, khi Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam được thành lập, GS. Nguyễn Nguyên Phong được tin tưởng giao nhiệm vụ làm Trưởng phòng Lò phản ứng và Điện hạt nhân đầu tiên. Thầy chính là một trong những cán bộ khoa học đầu tiên bước chân vào khảo sát thực địa Lò phản ứng TRIGA-MARK II tại Đà Lạt sau khi tiếp quản từ quân đội.
Những ngày đầu khảo sát là một chuỗi thách thức kỹ thuật cực kỳ phức tạp. Trong làn nước tinh khiết của lò vẫn còn lẫn rác, chỉ số phóng xạ ở một số điểm cao gấp 1.000 lần mức cho phép, thùng lò bị nghiêng, vành phản xạ graphite bị lệch tâm... Nhóm khảo sát do GS. Phong phụ trách mảng công nghệ đã phải lội tìm từng nguyên nhân. Bằng nền tảng lý thuyết vững chắc, thầy và các đồng nghiệp Bách khoa đã chứng minh được hiện tượng độ phóng xạ tăng cao trong lò không phải do neutron kích hoạt sắt như thông thường, mà do các tạp chất niken và đồng trong mác nhôm vỏ lò Mỹ bị kích hoạt. Sự thấu đáo về khoa học cơ bản của các cán bộ Việt Nam đã khiến các chuyên gia Liên Xô sang công tác sau đó phải nể phục.
Trình bày kế hoạch nghiên cứu tình trạng kỹ thuật của Lò phản ứng Đà Lạt (1977). Từ phải sang: TS. Phạm Quốc Trinh, GS. TS Nguyễn Nguyên Phong, GS.TS Phạm Duy Hiển (Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam), PGS. TS Nguyễn Hữu Xý, PGS.TS Nguyễn Mộng Sinh, tiếp theo là các cán bộ ngành xây dựng. Ảnh: Sưu tầm
Đóng góp mang tính bước ngoặt của GS. Phong cùng các nhà khoa học thời đó chính là bản lĩnh tư duy phản biện để bảo vệ lợi ích lâu dài của quốc gia. Ban đầu, thỏa thuận giữa hai Nhà nước Liên Xô và Việt Nam chỉ ghi ngắn gọn: "Liên Xô giúp Việt Nam khôi phục Lò phản ứng Đà Lạt", tức chỉ sửa chữa để chạy lại công suất cũ rất nhỏ (250 kW). Nhận thấy công suất này quá bé, vị trí lại xa các trung tâm khoa học, nếu chỉ khôi phục nguyên trạng sẽ rất lãng phí và khó tận dụng, GS. Phong cùng các đồng nghiệp đã kiên trì đề xuất và đấu tranh chuyên môn để bổ sung cụm từ "và mở rộng" vào dự án.
Nhờ sự kiên trì ấy, Công trình Khôi phục và Mở rộng Lò phản ứng Hạt nhân Đà Lạt (mã hiệu IVV-9) đã được phê duyệt, nâng công suất lên gấp đôi (500 kW), trang bị thêm hệ thống thiết bị nghiên cứu hiện đại, chính thức khởi công ngày 15/3/1982. Đây trở thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất đồng vị phóng xạ chủ lực của Việt Nam suốt nhiều thập kỷ qua.
Gỡ nút thắt pháp lý quốc tế và giai thoại "con mèo - con hổ" trên bàn đàm phán
Không chỉ là một người làm khoa học thuần túy, GS. Nguyễn Nguyên Phong còn là một trong những đại diện trí thức Bách khoa tham gia vào những trận tuyến ngoại giao ngành Hạt nhân đầy cam go của đất nước trong giai đoạn 1977-1980, thời điểm Việt Nam vừa bước ra khỏi chiến tranh.
Năm 1980, để Dự án khôi phục Lò phản ứng Đà Lạt có thể triển khai hợp pháp, Việt Nam buộc phải ký một Hiệp định Thanh sát (Hiệp định Bảo đảm - Garanties) riêng với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) do khi đó ta chưa tham gia Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân (NPT). IAEA đã đưa ra bản dự thảo gồm 21 điều khoản, nhưng qua nghiên cứu, phía Việt Nam nhận thấy có tới 19 điều khoản bất đồng do lo ngại xâm phạm chủ quyền quốc gia. GS. Nguyễn Nguyên Phong được giao làm Trưởng Tiểu ban Kỹ thuật thuộc đoàn đàm phán Chính phủ do Đại sứ Võ Văn Sung làm Trưởng đoàn.
Cuộc đàm phán diễn ra nghẹt thở kéo dài suốt một tháng tại Vienna (Áo). Phía IAEA muốn áp đặt các cơ chế kiểm soát thông tin hết sức khắt khe. Chính trong không khí căng thẳng ấy, sự thông tuệ kỹ thuật của GS. Phong kết hợp với nghệ thuật ngoại giao tài hoa của Đại sứ Võ Văn Sung đã tạo nên một giai thoại thú vị trong lịch sử ngoại giao hạt nhân Việt Nam.
GS. Nguyễn Nguyên Phong (hàng ghế thứ 3, từ phải sang) và đoàn Đại biểu Việt Nam dự Đại hội đồng IAEA tại Vienna, Áo, 1978. Ảnh: Sưu tầm
GS. Nguyễn Nguyên Phong kể lại, khi Vụ trưởng Đối ngoại IAEA lo ngại lò Đà Lạt có thể bị lợi dụng để tách Plutonium làm vũ khí, Trưởng đoàn Việt Nam đã mềm mỏng nhưng kiên quyết đáp lời: "Lò Đà Lạt là 'chaton' - con mèo con, các ông đừng đối xử với nó như con hổ! Chứng minh là mỗi năm chạy hết công suất, nếu lấy hết cũng chỉ được 19 gam Plutonium, chạy cả hàng trăm năm mới làm được quả bom nguyên tử!". Phía IAEA vặn lại: "Nếu không cẩn thận thì nó sẽ lớn thành con hổ đó!". Đại sứ Việt Nam đáp ngay: "Thế thì ông sai với học thuyết tiến hóa của Darwin rồi! Con mèo không thể biến thành con hổ".
GS. Nguyễn Nguyên Phong chia sẻ, về sau, trong đàm phán thỉnh thoảng lại nhắc cái câu chuyện hổ - mèo này! Hiệp định Bảo đảm đã được ký kết thành công chỉ vài giờ trước khi đoàn Việt Nam rời Vienna. Nút thắt pháp lý quốc tế cuối cùng được tháo gỡ, mở đường cho Lò phản ứng Đà Lạt tái sinh.
Cũng trong giai đoạn 1977-1980, GS. Nguyễn Nguyên Phong cùng GS. Đinh Ngọc Lân là những chuyên gia kỹ thuật tháp tùng các Đoàn đại biểu Việt Nam dự Đại hội đồng IAEA. Bằng năng lực chuyên môn, thầy đã góp phần mang về cho đất nước những dự án viện trợ kỹ thuật giá trị trong thời kỳ bao cấp khó khăn, như: Dự án Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, hệ thống phân tích huỳnh quang tia X, máy nhiễu xạ tia X... phục vụ đắc lực cho nghiên cứu và phát triển kinh tế sau chiến tranh.
"Ngọn đuốc" Bách khoa và sứ mệnh đào tạo vươn tầm quốc tế
Song hành với những nhiệm vụ quốc gia tầm vóc, trái tim của GS. Nguyễn Nguyên Phong vẫn luôn thuộc về giảng đường Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhận học hàm Phó Giáo sư năm 1980 và danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1992, thầy đảm nhiệm vai trò Tổ phó Bộ môn Vật lý Hạt nhân (1970-1995) và Viện phó Viện Vật lý Kỹ thuật (1985-1995).
GS. Nguyễn Nguyên Phong (hàng hai, thứ hai từ trái sang) và các đồng nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội năm xưa. Ảnh: Sưu tầm
Thầy Phong là người trực tiếp đặt nền móng xây dựng chương trình đào tạo kỹ sư Vật lý Hạt nhân của Bách khoa, trực tiếp giảng dạy môn Vật lý Nơtron và giữ vai trò Trưởng tiểu ban Vật lý Hạt nhân tuyển chọn nghiên cứu sinh du học. Nhờ sự tận tụy của thầy Phong, cũng như các nhà giáo Viện Vật lý Kỹ thuật (nay là Khoa Vật lý Kỹ thuật), hàng trăm kỹ sư, nhà khoa học hạt nhân nòng cốt của Việt Nam đã được tôi luyện từ mái trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
Sau khi nghỉ hưu năm 1995, GS. Nguyễn Nguyên Phong nhận lời mời của Chính phủ Cộng hòa Angola sang làm Chuyên gia cao cấp cho Bộ Khoa học và Công nghệ nước bạn, đồng thời là Giáo sư Thực thụ (Titular) tại Đại học Quốc gia Agostinho Neto (1995-2019).
Tại quốc gia châu Phi xa xôi, thầy đã mang tri thức và phương pháp giáo dục Bách khoa để giúp nước bạn xây dựng ngành đào tạo Vật lý Hạt nhân ứng dụng, hỗ trợ Angola trở thành thành viên chính thức của IAEA và xây dựng các dự án ứng dụng bức xạ phục vụ đời sống. Đáng chú ý, thầy đã trực tiếp hướng dẫn và đào tạo các tiến sĩ vật lý hạt nhân cho Angola, trong đó có bà Maria Cândida Pereira Teixeira (sau này trở thành Bộ trưởng Bộ KH&CN, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Angola) và TS. Pedro (Giám đốc Cơ quan Pháp quy Hạt nhân Angola).
Chính thành công trong việc đào tạo những cán bộ lãnh đạo nòng cốt cho nước bạn đã chứng minh giá trị cốt lõi của tri thức Việt Nam khi vươn ra thế giới. Nhìn lại suốt hành trình gắn bó với sự nghiệp "trồng người" và nghiên cứu khoa học, GS. Nguyễn Nguyên Phong chia sẻ: "Đồng nghiệp quốc tế luôn đánh giá cán bộ Việt Nam chúng ta rất vững về kiến thức khoa học cơ bản. Đó là cái nền để chúng ta thích ứng, tự học và làm chủ công nghệ trong bất kỳ hoàn cảnh nào!".
Suốt chặng đường 70 năm hình thành và phát triển, Đại học Bách khoa Hà Nội luôn tự hào truyền thống đào tạo, nghiên cứu được xây dựng từ những nhà khoa học kiệt xuất, những người đã đặt từng viên gạch hồng kiên cố cho nền khoa học kỹ thuật nước nhà. Chính di sản từ tri thức, bản lĩnh và tâm huyết của các thế hệ tiền bối là điểm tựa vững chắc nhất để Đại học Bách khoa Hà Nội vững bước tương lai, tiếp tục khẳng định vị thế trung tâm đào tạo, nghiên cứu hàng đầu, dẫn dắt sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước trong kỷ nguyên mới.