Đại học Bách khoa Hà Nộihttps://hust.edu.vn/uploads/sys/logo-dhbk-1-02_130_191.png
Chủ nhật - 09/08/2026 21:40
GS.TSKH. NGND Nguyễn Thiện Phúc - Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Với GS. TSKH. NGND Nguyễn Thiện Phúc, Đại học Bách khoa Hà Nội không chỉ là nơi học tập hay công tác, mà còn là nơi chứng kiến gần như toàn bộ hành trình trưởng thành của thầy: Từ cậu sinh viên khóa đầu tiên đến người thầy, nhà khoa học và nhà quản lý dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục.
Tốt nghiệp khóa đầu tiên Khoa Cơ khí năm 1959 với thành tích xuất sắc, GS. Nguyễn Thiện Phúc được giữ lại trường làm giảng viên khi mới 20 tuổi. Năm 1968, thầy được cử sang Liên Xô học tập và nghiên cứu, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ năm 1972 và Tiến sĩ khoa học năm 1978 tại Trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Saint Petersburg, chuyên ngành Máy và dây chuyền tự động.
Trở về nước, thầy từng bước đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng, trong đó có Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đồng thời ghi dấu ấn trong lĩnh vực robot, tự động hóa và cơ khí chính xác.
Nhân dịp Kỷ niệm 70 năm thành lập Đại học Bách khoa Hà Nội, GS. TSKH. NGND. Nguyễn Thiện Phúc đã có những chia sẻ đầy cảm xúc về mái trường gắn bó gần như trọn cuộc đời mình.
GS. Nguyễn Thiện Phúc (áo kẻ caro) tham dự Lễ Mừng thọ do Hội Cựu giáo chức ĐHBK Hà Nội tổ chức, năm 2024. Ảnh: Duy Thành
Ký ức về những người thầy làm nên thế hệ Bách khoa
* Mỗi người đều có một biểu tượng của riêng mình khi nhớ về thời sinh viên. Với Giáo sư, điều gì gợi nhắc về những năm tháng đầu tiên ở Đại học Bách khoa Hà Nội?
- Có lẽ đó là chiếc mũ lá.
Những sinh viên từ vùng kháng chiến Khu 4 ra Hà Nội học tập như chúng tôi đều có cuộc sống thiếu thốn. Trong hành trang chỉ có vài bộ quần áo và một chiếc mũ lá quê nhà.
Giữa phố phường Hà Nội những ngày đầu sau giải phóng, những chiếc mũ lá của chúng tôi có phần lạc lõng. Trong lớp, nhiều bạn học ở nội thành thời tạm chiếm gọi vui chúng tôi là "dân mũ lá". Nhưng khoảng cách ấy nhanh chóng được xóa nhòa. Chúng tôi cùng học, cùng lao động và dần trở thành những người bạn.
* Và cũng chính từ những chiếc mũ lá ấy, thầy có cơ duyên đặc biệt với GS. Tạ Quang Bửu?
- Đúng vậy!
Không biết có phải vì tình đồng hương hay không, nhóm sinh viên "mũ lá" chúng tôi được thầy Tạ Quang Bửu đặc biệt quan tâm. Thầy cho tham dự những buổi học Toán chuyên đề do chính thầy đứng lớp.
Ngày ấy, thú thực là chúng tôi chưa thể hiểu hết những điều thầy truyền đạt, nhưng vẫn chăm chỉ nghe giảng, làm bài tập và ghi chép cẩn thận. Mãi đến nhiều năm sau, khi sang Liên Xô làm luận án Tiến sĩ rồi Tiến sĩ khoa học, tôi mới thực sự cảm nhận được giá trị của những bài học ấy.
Có lần tôi báo cáo trước bộ môn về một bài báo khoa học chuẩn bị gửi đăng trên tạp chí quốc tế. Một đồng nghiệp nhận xét rằng tư duy toán học của tôi rất tốt và hỏi tôi từng học thêm ở đâu. Tôi chỉ mỉm cười. Nền tảng ấy bắt đầu từ những giờ học với thầy Bửu năm nào.
* Những sinh viên khóa đầu không chỉ đến để học, mà còn góp sức xây dựng chính ngôi trường của mình. Giáo sư còn nhớ những ngày ấy chứ?
- Tôi nhớ như in, ngày ấy, khu đất trước dãy nhà C còn là một bãi cỏ rộng, giữa bãi có một nhánh nhỏ của sông Tô Lịch chảy qua. Muốn đi từ lớp học này sang lớp học khác phải bước qua một chiếc cầu gỗ nhỏ.
Sau này, nơi ấy trở thành sân vận động của trường.
Những sinh viên khóa đầu tiên chính là những người góp những nhát cuốc đầu tiên để tạo nên sân vận động ấy. Chúng tôi san lấp dòng nước, đắp bốn con đường bao quanh chỉ bằng cuốc, xẻng, xe ba gác và những đôi quang gánh. Bây giờ nghĩ lại, đó là những ngày lao động rất vất vả nhưng cũng đẹp vô cùng.
Tấm ảnh chụp bãi đất trước nhà C nhiều kỷ niệm. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Thầy Hiệu trưởng Tạ Quang Bửu khi ấy thỉnh thoảng lại ra công trường động viên sinh viên. Tổ nào làm tốt sẽ được thầy chụp tặng một bức ảnh bằng chiếc máy ảnh hộp rất hiện đại thời bấy giờ.
Tôi vẫn nhớ một lần, thấy nhóm sinh viên "mũ lá" chúng tôi đang hì hục làm việc dưới nắng, một bạn chạy đến mời thầy đội thử chiếc mũ cho đỡ nắng. Thầy cười rất hiền rồi nói: "Nào, đội chiếc mũ quê hương!"
Đó chỉ là một câu nói vui, nhưng đến tận hôm nay, mỗi lần nhìn lại bức ảnh cũ, tôi vẫn thấy trong đó sự gần gũi của một vị hiệu trưởng chưa bao giờ có khoảng cách với sinh viên.
* Được biết, bên cạnh GS. Tạ Quang Bửu, thầy còn có nhiều năm được làm việc gần gũi với GS. Trần Đại Nghĩa. Thầy Nghĩa là người như thế nào trong ký ức của GS?
- Giai đoạn tôi được gần gũi với thầy Trần Đại Nghĩa nhiều nhất là trong công tác Hội Liên hiệp Khoa học và Kỹ thuật (LHH) Việt Nam, với trách nhiệm là Chủ tịch Hội LHH Hà Nội nhiệm kỳ đầu tiên (1982 - 1987).
Nhiều hôm, công việc ở cơ quan kết thúc rất muộn, thầy bảo tôi lên xe cùng về. Từ cơ quan ở phố Bà Triệu về nhà thầy ở Hàng Chuối không xa, nhưng quãng đường ấy lại là những "buổi học" đặc biệt. Hai thầy trò tiếp tục trao đổi về nghiên cứu, về quản lý khoa học và về cách đưa tri thức đến với đông đảo quần chúng.
Điều khiến tôi ấn tượng nhất là thầy luôn nhấn mạnh vai trò của người lao động. Theo thầy, thành tựu khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi được những người trực tiếp sản xuất tiếp nhận và biến thành của cải cho xã hội.
* Trong nhiều lần được làm việc cùng GS. Trần Đại Nghĩa, có kỷ niệm nào khiến thầy nhớ mãi?
- Đó là buổi tối trước Đại hội thành lập Hội Liên hiệp Khoa học và Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh năm 1986.
GS. Trần Đại Nghĩa (hàng đầu, thứ 5 từ trái sang), GS. Nguyễn Thiện Phúc (hàng đầu, thứ 3 từ phải sang) và các đại biểu tham dự đại hội thành lập LHH TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Hôm ấy, sau khi cùng chỉnh sửa bài phát biểu cho ngày hôm sau, hai thầy trò ngồi trò chuyện rất khuya. Thầy nói nhiều về nghiên cứu khoa học, nhưng có hai điều tôi chưa bao giờ quên.
Thứ nhất, thầy bảo: "Trong giảng dạy, người ta phải chia nhỏ kiến thức thành từng môn học để sinh viên dễ tiếp thu. Nhưng khi làm việc, phải biết vận dụng tổng hợp tất cả những kiến thức ấy."
Đó là tư duy liên ngành mà đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.
Điều thứ hai khiến tôi suy nghĩ rất nhiều là khi thầy nhắc về Đại học Bách khoa Hà Nội.
Thầy nói, điều quan trọng không phải là cái tên "Đại học Bách khoa Hà Nội", mà là phải luôn ý thức đây là một trường đại học mang trách nhiệm quốc gia. Người thầy phải giảng dạy với trách nhiệm quốc gia, còn người học phải học với lòng tự tôn của một dân tộc.
Tôi đã mang lời dặn ấy trở về và nhiều lần chia sẻ lại với đồng nghiệp cũng như các thế hệ sinh viên của mình.
* Có những người thầy không chỉ truyền cảm hứng mà còn thay đổi cả con đường sự nghiệp của học trò. Phải chăng GS. Trần Đại Nghĩa chính là người đầu tiên định hướng thầy đến với lĩnh vực robotics?
- Đúng vậy.
Khi biết tôi đang làm luận án Tiến sĩ khoa học tại Đại học Bách khoa Leningrad, GS.Trần Đại Nghĩa cùng GS. Nguyễn Văn Đạo (khi ấy phụ trách Viện Khoa học Việt Nam) đã động viên tôi chuyển hướng sang nghiên cứu robotics - một lĩnh vực còn rất mới thời điểm đó.
Từ đó tôi bắt đầu tham gia một nhóm nghiên cứu robotics, theo học một vài lớp chuyên đề về các lĩnh vực liên quan và bắt đầu triển khai đề tài nghiên cứu. Sau khi tốt nghiệp về nước, tôi được phân công phụ trách một Trung tâm nghiên cứu về robotics.
GS. Nguyễn Thiện Phúc (áo trắng) trao đổi với cán bộ kỹ thuật bên cạnh chiếc robot dưới nước vừa hoàn thành sửa chữa cáp ngầm ở đáy biển. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Những ngày đầu vô cùng khó khăn. Trung tâm phải tự tìm nguồn kinh phí để duy trì hoạt động. Nhưng mỗi khi gặp trở ngại, tôi lại nhớ đến sự động viên của thầy Trần Đại Nghĩa.
Có lẽ, nếu không có niềm tin mà các thầy gửi gắm, tôi đã không đủ kiên trì để theo đuổi lĩnh vực này suốt nhiều chục năm sau đó.
Từ hai chữ "Bách khoa" đến khát vọng đưa nghiên cứu bước ra đời sống
* Trong mắt nhiều thế hệ, "BK" không chỉ là hai chữ viết tắt của Bách khoa mà đã trở thành một thương hiệu. Với riêng Giáo sư, hai chữ ấy mang ý nghĩa như thế nào?
- Nhiều người hôm nay nhìn thấy BK Holding, BK Alumni hay những sản phẩm mang thương hiệu BK và xem đó là điều rất quen thuộc. Nhưng ít ai biết rằng, để hai chữ ấy trở thành một thương hiệu được xã hội biết đến là cả một hành trình rất dài.
Những năm tôi phụ trách Phòng Quản lý khoa học là giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn. Kinh phí nghiên cứu rất ít, nhưng chúng tôi luôn trăn trở làm sao để các kết quả nghiên cứu không nằm yên trên giấy mà có thể phục vụ ngay cho cuộc sống.
Từ những dây chuyền sản xuất đất đèn, bếp ăn tập thể, vị phở, lắp ráp tivi đến phần mềm BK Computer..., hầu hết các sản phẩm đều gắn với hai chữ "BK". Dần dần, thương hiệu ấy được xã hội ghi nhận và trở thành niềm tự hào của Bách khoa.
* Có thể nói đó cũng là giai đoạn đặt nền móng cho hệ sinh thái nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội?
- Đúng vậy. Khi ấy, chúng tôi kiên trì vận động kinh phí theo cách "vừa xây vừa xin" để xây dựng nhà C10 - nơi làm việc của các trung tâm nghiên cứu khoa học. Sau này, nhiều trung tâm từ đây đã phát triển mạnh, ký được những hợp đồng lớn và khẳng định uy tín của Bách khoa trong xã hội.
Mỗi lần quay trở lại khu vực ấy, đặc biệt khi bước vào không gian BK Alumni hôm nay, tôi đều có cảm giác rất ấm áp. Tôi hình dung những thế hệ Bách khoa vẫn tiếp tục gặp gỡ, kết nối và cùng nhau tạo nên một đại gia đình mà mình đã gắn bó gần như suốt cuộc đời.
* Đằng sau tâm huyết để vun đắp những nền móng ấy, có lẽ điều thôi thúc Giáo sư chính là niềm đam mê nghiên cứu khoa học?
- Tôi luôn nghĩ nghiên cứu khoa học là một hành trình không có điểm kết thúc. Suốt nhiều năm, tôi theo đuổi hai hướng nghiên cứu chính là robotics và lý thuyết ăn khớp bánh răng không gian.
Trong lĩnh vực robotics, tôi đã đề xuất, chỉ đạo thiết kế, chế tạo thành công một loại robot kiểu mới, đặt tên là Robot RP và các biến hình như robocar phun hóa chất phòng dịch, robocar bưng bê các thùng rác nhiễm khuẩn. Chúng đều được ứng dung thực nghiệm tại 3 bệnh viện ở Hà Nội. Ngoài ra tôi còn đề xuất loại robot bay (UAV) như robot Mũi tên bay, robot bay 3B và robot lướt ván tự động di chuyển nhanh trên mặt nước và chuyên chở được nhiều đồ đạc nhờ khai thác được hiệu ứng hình chêm thủy khí. Chúng đều đã được cấp bằng sáng chế.
Các robocar phun hóa chất phòng dịch tự di chuyển theo hành lang bệnh viện và tự tìm vào khu nhiễm xạ bưng bê các thùng rác nhiễm khuẩn. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Còn với nghiên cứu về bánh răng, tôi dành gần như cả cuộc đời để tìm kiếm một hướng đi mới, với mong muốn nâng cao hiệu suất, giảm kích thước và tăng tuổi thọ của các hệ truyền động cơ khí. Có những kết quả phải mất hàng chục năm mới chứng minh được, nhưng chính sự kiên trì ấy đã mang lại những thành quả đáng quý.
* Giáo sư từng nói, bên cạnh nghiên cứu khoa học, việc xây dựng một môi trường học thuật bền vững cũng rất quan trọng. Vậy thầy đã bắt đầu từ đâu?
- Một trong những việc tôi luôn nhớ là cùng các đồng nghiệp Phòng Quản lý khoa học thành lập Tạp chí Khoa học và Công nghệ.
Thời điểm đó, bốn trường kỹ thuật lớn cùng ngồi lại để xây dựng một diễn đàn học thuật chung. Ai cũng chung một suy nghĩ: muốn đại học phát triển thì nghiên cứu khoa học phải song hành với giảng dạy.
Đó cũng là lý do tôi rất vui khi được các đồng nghiệp tín nhiệm bầu làm Tổng Biên tập đầu tiên của Tạp chí, danh sách ban biên tập đăng trên bìa của cuốn Tạp chí số 1. Với tôi, đó không chỉ là một vị trí mà còn là trách nhiệm góp phần xây dựng văn hóa nghiên cứu trong các trường đại học kỹ thuật Việt Nam.
* Bên cạnh những công trình khoa học hay những dấu ấn trong công tác quản lý, có lẽ phần lớn cuộc đời Giáo sư vẫn thuộc về giảng đường. Sau hơn 50 năm gắn bó với nghề dạy học, điều gì khiến Giáo sư cảm thấy hạnh phúc nhất?
- Không phải những danh hiệu mình nhận được, mà là được chứng kiến sinh viên trưởng thành.
Có một đội Robocon của Đại học Bách khoa Hà Nội mà tôi luôn nhớ. Sau khi giành chức vô địch toàn quốc, các em tiếp tục thi đấu quốc tế và gây ấn tượng mạnh với bạn bè nước ngoài bằng những ý tưởng rất sáng tạo.
Sau này, chính những sinh viên ấy trở thành nòng cốt thành lập Công ty TOSY. Những robot "Made in Vietnam" được mang đi triển lãm quốc tế và xuất khẩu ra nước ngoài.
Mỗi lần nhìn thấy những thành công ấy, tôi lại nghĩ, đó mới là giá trị lớn nhất của một người thầy. Những gì mình truyền lại đã tiếp tục được học trò phát triển, sáng tạo và mang đến cho xã hội.
Khoa học là hành trình không có tuổi nghỉ hưu
* Nhiều người nghĩ rằng khi nghỉ hưu là khép lại sự nghiệp nghiên cứu. Nhưng dường như với Giáo sư thì điều đó chưa bao giờ xảy ra?
- Tôi cho rằng nhà khoa học chỉ thực sự dừng lại khi không còn khát vọng khám phá.
Những năm sau khi nghỉ hưu, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu và đến nay đã được cấp thêm 12 bằng sáng chế. Tôi cũng rất vinh dự được nhận Cúp và Giấy chứng nhận Ngôi sao Sáng chế Việt Nam.
Điều khiến tôi trăn trở không phải là có thêm bao nhiêu bằng sáng chế, mà là làm sao để những kết quả nghiên cứu ấy có thể bước ra khỏi phòng thí nghiệm, trở thành sản phẩm phục vụ đời sống và góp phần nâng cao năng lực công nghiệp của đất nước. Dù tuổi đã cao, tôi vẫn nhận lời làm cố vấn cho các đồng nghiệp trẻ, bởi tôi tin rằng những kết quả nghiên cứu chỉ thực sự có ý nghĩa khi được các thế hệ sau tiếp tục phát triển.
GS. Nguyễn Thiện Phúc (bìa phải) trong đoàn 10 cán bộ khoa học vinh dự được chọn ngồi trên Lễ đài Ba đình trong ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long, năm 2010. Ảnh: Nhân vật cung cấp
* Theo Giáo sư, điều gì là quan trọng nhất để những kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại trên trang sách?
- Quan trọng nhất là phải có sự đồng hành của Nhà nước, doanh nghiệp và các nhà khoa học.
Bánh răng hiện diện trong hầu hết các hệ thống máy móc, nên nếu những công nghệ mới được đầu tư phát triển thành công, chúng hoàn toàn có thể tạo ra những ngành công nghiệp phụ trợ có sức cạnh tranh quốc tế.
Tôi rất mong sẽ có thêm những tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đầu tư để các sáng chế của người Việt không chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm mà trở thành những sản phẩm mang lại giá trị cho đất nước.
* Nhân dịp Đại học Bách khoa Hà Nội kỷ niệm 70 năm thành lập, Giáo sư muốn gửi gắm điều gì tới các thế hệ thầy và trò hôm nay?
- Tôi mong Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ tiếp tục là một trong những lực lượng tiên phong phục vụ sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Điều tôi kỳ vọng trước hết là đội ngũ giảng viên sẽ không ngừng đổi mới giáo trình, phương pháp giảng dạy và tiếp cận những chuẩn mực quốc tế để đào tạo nên những kỹ sư, nhà khoa học có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Tôi cũng mong mỗi trường thành viên sẽ lựa chọn cho mình một hướng nghiên cứu thật mạnh, thật đặc sắc; kiên trì theo đuổi đến cùng để tạo ra những sản phẩm khoa học mang dấu ấn Việt Nam và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Đó không chỉ là khát vọng của riêng tôi, mà có lẽ cũng là khát vọng của rất nhiều thế hệ Bách khoa!
* Cảm ơn Giáo sư vì những chia sẻ đầy tâm huyết!
GS. Nguyễn Thiện Phúc phát biểu tại một buổi lễ tổ chức tháng 3/2023. Ảnh: Mai Loan
Ở tuổi 87, giọng nói của GS. TSKH. NGND Nguyễn Thiện Phúc vẫn đầy nhiệt huyết khi nhắc đến những công trình nghiên cứu còn dang dở, những thế hệ sinh viên đã trưởng thành hay hai chữ "BK" mà ông dành gần trọn cuộc đời để vun đắp.
Gần bảy thập kỷ gắn bó với Đại học Bách khoa Hà Nội, ông không chỉ là chứng nhân của những ngày đầu dựng xây ngôi trường, mà còn là người trực tiếp góp phần tạo nên những nền móng cho đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Từ cậu sinh viên "mũ lá" của khóa đầu tiên đến người thầy, nhà khoa học, nhà quản lý được nhiều thế hệ kính trọng, hành trình của ông cũng là một phần lịch sử của Bách khoa.
Có lẽ, điều còn đọng lại sau cuộc trò chuyện không chỉ là những ký ức về GS. Tạ Quang Bửu, GS. Trần Đại Nghĩa hay những năm tháng gian khó thuở ban đầu, mà còn là tinh thần học hỏi không ngừng, khát vọng cống hiến và niềm tin bền bỉ vào sức mạnh của tri thức. Đó cũng chính là những giá trị đã làm nên bản sắc của Đại học Bách khoa Hà Nội suốt 70 năm qua và sẽ tiếp tục được các thế hệ hôm nay, mai sau gìn giữ, tiếp nối.