Đại học Bách khoa Hà Nộihttps://hust.edu.vn/uploads/sys/logo-dhbk-1-02_130_191.png
Thứ sáu - 11/09/2026 03:49
Phiên tọa đàm và thảo luận chuyên sâu do TS. Trần Nam Tú và PGS. Tạ Hải Tùng chủ trì
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) trong thành lập và quản lý doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ được kỳ vọng tháo gỡ những điểm nghẽn về định giá tài sản trí tuệ, cơ chế tham gia của nhà khoa học, sử dụng tài sản công và thoái vốn, qua đó mở rộng không gian thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Đại học Bách khoa Hà Nội và các cơ sở giáo dục đại học.
Ngày 11/9, Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức tọa đàm góp ý Đề án thí điểm áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong hoạt động thành lập, quản lý doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ (spin-off) tại Đại học Bách khoa Hà Nội.
Tọa đàm có sự tham dự của đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hà Nội cùng các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện nhiều cơ sở giáo dục đại học trong nước.
Tháo gỡ điểm nghẽn để đưa nghiên cứu ra thị trường
Phát biểu khai mạc tọa đàm, TS. Trần Nam Tú - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo - cho biết gần hai năm qua, hệ thống thể chế liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có nhiều thay đổi quan trọng. Giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ xây dựng thể chế sang tổ chức thực thi, đặc biệt tại các cơ sở giáo dục đại học.
“Đề xuất của Đại học Bách khoa Hà Nội là một đề án tiên phong. Nếu tháo gỡ được những vướng mắc trong cơ chế thành lập và quản lý doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ, mô hình này không chỉ có ý nghĩa với Bách khoa Hà Nội mà còn có thể tạo tiền đề cho các cơ sở giáo dục đại học khác.” - TS. Trần Nam Tú đánh giá.
TS. Trần Nam Tú - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo - phát biểu khai mạc
Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các đại biểu tập trung làm rõ ba vấn đề: thẩm quyền phê duyệt đề án; tác động, hiệu quả đầu ra và cơ chế quản trị rủi ro; những điểm nghẽn thể chế cần tiếp tục tháo gỡ. Theo đó, đề án cần hướng tới việc đánh giá hiệu quả thương mại hóa và tác động kinh tế - xã hội, thay vì chỉ tập trung vào các yếu tố đầu vào.
Đại diện đơn vị chủ trì đề án, PGS. Tạ Hải Tùng - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, nhấn mạnh việc hình thành doanh nghiệp khai thác trí tuệ của đại học là nhiệm vụ quan trọng đối với một đại học kỹ thuật - công nghệ.
Từ kinh nghiệm nghiên cứu, phát triển sản phẩm và khảo sát các mô hình spin-off tại Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh và các đại học IIT của Ấn Độ, Phó Giám đốc Đại học cho rằng mô hình chuyển giao công nghệ đơn thuần chưa đủ để phát huy hết giá trị của nghiên cứu.
PGS. Tạ Hải Tùng - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội - phát biểu khai mạc
Thực tế tại Đại học Bách khoa Hà Nội cho thấy nhiều cán bộ đã tạo ra những doanh nghiệp, sản phẩm công nghệ thành công. Tuy nhiên, hành lang pháp lý chưa đủ thông thoáng khiến hoạt động này chưa phát triển tương xứng với tiềm năng với những rào cản trong định giá tài sản trí tuệ, trách nhiệm khi doanh nghiệp thua lỗ, thoái vốn...
Theo PGS. Tạ Hải Tùng, nếu tháo gỡ được điểm nghẽn này, mô hình spin-off tại Bách khoa Hà Nội có thể tạo hiệu ứng lan tỏa tới các cơ sở giáo dục đại học khác, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo tinh thần Nghị quyết 57.
Đề xuất sáu cơ chế sandbox
Tại toạ đàm, TS. Trương Công Tuấn - Giám đốc Trung tâm Sáng tạo và Khởi nghiệp Sinh viên, Đại học Bách khoa Hà Nội, đã trình bày các nội dung cốt lõi của đề án.
Theo thống kê, Đại học Bách khoa Hà Nội hiện có hơn 200 văn bằng sáng chế mà Đại học là chủ sở hữu. Đề án đặt mục tiêu, nếu được thông qua, trong vòng hai năm có thể hình thành khoảng 15 doanh nghiệp spin-off.
Đề án xác định các quan điểm chính: Nhà nước đầu tư để tạo ra tri thức và thúc đẩy tri thức tạo giá trị; tối đa hóa cơ hội thương mại hóa thay vì tối đa hóa giá bán IP; coi trọng giá trị dài hạn; và quản lý theo quy trình minh bạch thay vì chỉ dựa trên kết quả.
TS. Trương Công Tuấn - Giám đốc Trung tâm Sáng tạo và Khởi nghiệp Sinh viên, Đại học Bách khoa Hà Nội - trình bày đề án
Một trong những vấn đề trọng tâm của đề án là lựa chọn phương thức licensing (cấp phép khai thác quyền sở hữu trí tuệ) thay vì định giá tài sản trí tuệ ngay từ đầu để góp vốn. Theo phân tích của nhóm xây dựng đề án, định giá IP ở giai đoạn sớm gặp nhiều khó khăn do thiếu giá trị thị trường tham chiếu, thiếu dữ liệu cho các phương pháp định giá, đồng thời có thể tạo ra rủi ro trách nhiệm đối với người có thẩm quyền phê duyệt. Từ đó, đề án lựa chọn cách tiếp cận cấp phép khai thác trước và xác lập giá trị theo kết quả, thay cho định giá trước, khai thác sau.
Bên cạnh cơ chế licensing, đề án xác định 6 nội dung cần được đưa vào cơ chế thử nghiệm, gồm: Standard Deal cho giao dịch licensing; cơ chế kiêm nhiệm và tạm hoãn một phần nghĩa vụ công tác của viên chức; sử dụng có kiểm soát cơ sở vật chất, trang thiết bị công; thẩm định độc lập và xác nhận tuân thủ Safe Harbor; chấp nhận rủi ro trong thương mại hóa có kiểm soát; và thoái vốn linh hoạt gắn với kiểm soát giá, xung đột lợi ích.
Theo TS. Trương Công Tuấn, mục tiêu cuối cùng của đề án không chỉ là tạo thêm doanh nghiệp mà là đưa kết quả nghiên cứu vào thực tế, thu hút nguồn vốn tư nhân và vốn đầu tư mạo hiểm, hình thành thị trường công nghệ, thu hút và giữ chân nhà khoa học giỏi, nâng cao vị thế của Đại học Bách khoa Hà Nội và tạo nguồn thu dài hạn để tái đầu tư.
Tiếp tục hoàn thiện đề án, phân định rõ “pilot” và “sandbox”
Từ những nội dung được trình bày, phiên tọa đàm và thảo luận chuyên sâu do TS. Trần Nam Tú và PGS. Tạ Hải Tùng điều hành đã tập trung trao đổi về các cơ chế được đề xuất, đặc biệt là Standard Deal, Safe Harbor, cơ chế tham gia doanh nghiệp của viên chức, sử dụng tài sản công, định giá tài sản trí tuệ và phương thức thoái vốn...
Các đại biểu đóng góp ý kiến tại toạ đàm
Kết luận tọa đàm, TS. Trần Nam Tú cho rằng điểm quan trọng tiếp theo là cần phân định rõ những nội dung có thể triển khai theo pháp luật hiện hành và những nội dung thực sự cần đưa vào sandbox. Đề án cần rà soát từng nội dung để xác định đâu là phần có thể “pilot”, đâu là phần cần cơ chế thử nghiệm mới.
Từ cách tiếp cận này, TS. Trần Nam Tú đề nghị Đại học Bách khoa Hà Nội phối hợp với các đơn vị liên quan tiếp tục rà soát cơ sở pháp lý, làm rõ thẩm quyền phê duyệt và cụ thể hóa cách thức áp dụng các mô hình quốc tế vào điều kiện Việt Nam. Đề án cũng cần xác định những sản phẩm, doanh nghiệp spin-off có thể triển khai trước, qua đó biến sandbox từ một khung chính sách thành cơ chế có thể kiểm chứng bằng thực tiễn.
TS. Trần Nam Tú đồng thời đề nghị các đơn vị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng tham gia rà soát, hoàn thiện đề án. Theo ông, đây không chỉ là công việc riêng của Đại học Bách khoa Hà Nội mà là một vấn đề chung của hệ thống giáo dục đại học và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở các ý kiến tại tọa đàm, Đại học Bách khoa Hà Nội sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện đề án, trong đó làm rõ cấu phần “pilot” và “sandbox”, hoàn thiện cơ sở pháp lý, xác định các trường hợp triển khai cụ thể và chuẩn bị hồ sơ trình cấp có thẩm quyền.
Nếu được phê duyệt và triển khai, đề án không chỉ mở thêm không gian để các nhà khoa học Bách khoa Hà Nội đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, mà còn có thể cung cấp một mô hình thử nghiệm để hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp spin-off trong các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.