Đại học Bách khoa Hà Nộihttps://hust.edu.vn/uploads/sys/logo-dhbk-1-02_130_191.png
Thứ ba - 18/08/2026 05:30
GS. Thái Thanh Sơn ở tuổi 92
Trong căn phòng tĩnh mịch tràn ngập ánh nắng những ngày thu Hà Nội 2026, GS.Thái Thanh Sơn ngồi lặng yên bên bàn làm việc, ánh mắt ông lấp lánh khi ngắm những bức ảnh kỷ niệm về Đại học Bách khoa Hà Nội. Ở tuổi 92, ông hiện thân như một pho sử sống về Bách khoa, là một trong hai thành viên của “Khoá Không” - hai chứng nhân cuối cùng trong nhóm 28 giảng viên đầu tiên đã góp phần đặt những viên gạch nền móng cho Nhà trường từ tháng 7/1956.
Mỗi khi hồi tưởng về hành trình bảy thập kỷ ấy, trong lòng vị GS. Toán Bách khoa lại trào dâng những cảm xúc khó tả, giống như đang lật giở từng trang của một cuốn sử thi hào hùng, đầy ắp những ân tình và cả những thăng trầm chưa từng được kể hết.
Nhìn lại danh sách 28 người năm ấy, GS. Thái Thanh Sơn không khỏi bùi ngùi khi biết rằng chỉ còn ông và PGS. Kim Cương là còn hiện hữu trên cõi đời này nhưng thầy Kim Cương từ lâu đã chọn cách sống khá khép kín, hầu như rất ít tham gia các hoạt động chung. GS. Thái Thanh Sơn dự lễ mừng thọ của Hội Cựu giáo chức, Đại học Bách khoa Hà Nội (5/2026)
Có nhiều điều thôi thúc GS. Sơn ghi lại những câu chuyện ông còn nhớ, bởi ông tự thấy mình là người cuối cùng còn đủ minh mẫn để kể lại một cách rõ nét nhất những trang sử hào hùng của Bách khoa một thời!
Một tiểu sử sôi động
Cuộc đời của GS. Thái Thanh Sơn có những nét đặc biệt từ thuở nhỏ. Mẹ ông là giáo viên tại một trường Pháp dành riêng cho con em các gia đình người Pháp sang Việt Nam công tác. Nhờ đó, từ năm 3 tuổi, cậu bé Thanh Sơn đã được gửi vào nhà trẻ Pháp, tập nói và tập khóc bằng tiếng Pháp. Với ông, tiếng Pháp gần như là ngôn ngữ mẹ đẻ, còn tiếng Việt sau này mới chính thức được học như một ngoại ngữ thứ hai dưới sự dẫn dắt của một cô giáo người Pháp lai khi ông lên cấp hai. 70 năm trước, chàng trai 22 tuổi Thái Thanh Sơn lần đầu tiên bước chân lên bục giảng tại Đại học Bách khoa Hà Nội
Xuất thân từ một gia đình Nho học cho nên từ lúc còn bé, ngoài việc theo học ở “Trường Tây”, hằng ngày ở nhà, ông nội của cậu bé Thanh Sơn vẫn dạy chữ Hán phồn thế cho cậu; đọc và giảng giải cho cậu về kho tàng văn học dân tộc. Vì vậy cho đến nay - hơn 80 năm sau – GS. Sơn vẫn còn thuộc lòng hàng trăm chữ trong TAM THIÊN TỰ, hàng trăm câu trong Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Tỳ bà hành, Cung oán ngâm khúc... hàng chục bài thơ Đường.
Ngoài ngôn ngữ, văn hóa Pháp và Hán học được học từ bé, thầy Sơn hoàn toàn tự học và sử dụng tốt nhiều thứ tiếng nước ngoài. Thầy viết sách báo, đọc báo cáo khoa học, trực tiếp giảng dạy ở nhiều quốc gia sử dụng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc.
Không chỉ giỏi ngoại ngữ, thầy Sơn còn có năng khiếu cả với… “nội ngữ”!
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thầy Sơn theo cha - khi đó là một cán bộ công tác tại Bộ Tài Chính của chính phủ kháng chiến - lên chiến khu Việt Bắc. Trong an toàn khu dành cho cán bộ, thầy được gửi sống tại nhà dân, cùng ăn cùng ở với bà con người Tày ở Cao Bằng, Trùng Khánh. Tại đây, thầy Sơn học tiếng Tày vừa trực tiếp với người dân, vừa học chính quy. Thế nên thầy không chỉ biết nói tiếng Tày - Nùng mà còn biết đọc và biết viết chữ Alphabet của người dân tộc Tày qua những cuốn SGK tiểu học. Vốn liếng ngôn ngữ phong phú từ Tây sang Đông này đã biến GS. Thái Thanh Sơn trở thành một nhân vật đặc biệt của Bách khoa sau này.
Những bước chân đầu tiên và ký ức về người MỞ ĐƯỜNG Đông dương học xá - Năm 1956
Hồi ức của GS. Thái Thanh Sơn về Đại học Bách khoa được ngược dòng thời gian về ngày 4/5/1956, khi sắc lệnh thành lập trường được ban bố, với cái tên thuở ban đầu là “Trường Đại học và chuyên nghiệp Bách khoa”.
Thầy Sơn kể: “Ngay từ những năm sau chiến dịch biên giới thắng lợi, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu chuẩn bị đào tạo nguồn cán bộ cho các trường đại học - nhất là các trường đại học kỹ thuật sẽ được thành lập sau khi hòa bình lập lại.
Năm 1952, tôi là một trong số những người may mắn được Nhà nước cử đi học bậc đại học tại Dục tài học hiệu - trường bồi dưỡng tài năng đặt trong Khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc), để khi trở về sẽ tham gia giảng dạy ở các trường đại học. GS. Thái Thanh Sơn - Kỷ niệm ngày đầu lên bục giảng - 10/1956
Vì vậy, ngay sau khi Trường Đại học Chuyên nghiệp Bách khoa được thành lập, ngày 1/7/1956 tôi và 12 cán bộ khác được Bộ Giáo dục bổ nhiệm về thành lập tổ Toán thuộc Trường Đại học Chuyên nghiệp Bách khoa, cùng với 15 cán bộ của các tổ Vật lý, Hóa học, Địa lý địa chất là 28 cán bộ giảng dạy đầu tiên của Đại học Bách khoa Hà Nội mà mọi người thường gán cho cái tên trìu mến như để thêm phần gắn bó với Đại học Bách khoa là: Cán bộ giảng dạy Khoá Không.
Chúng tôi làm việc quên mình để kịp tổ chức kỳ thi tuyển sinh đón những sinh viên đầu tiên vào tháng 10 cùng năm. Thầy Trần Đại Nghĩa - vị Hiệu trưởng đầu tiên của Bách khoa - với uy tín của mình về nhiều mặt - đã dựng ngọn cờ tri thức để tập hợp những trí thức đất nước thời đó. Thầy Nghĩa là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp kiêm nhiệm nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, vì vậy công việc điều hành thực tế tại trường chủ yếu do ông Hoàng Xuân Tùy đảm nhiệm nhưng dấu ấn của thầy Trần Đại Nghĩa đối với chúng tôi vô cùng sâu sắc…”.
Người thầy DẪN LỐI Với thầy Thái Thanh Sơn, GS. Tạ Quang Bửu là là bậc tôn sư kính mến về nhiều mặt
Mối quan hệ giữa thầy Thái Thanh Sơn và GS. Tạ Quang Bửu - vị Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Bách khoa Hà Nội - rất đặc biệt, vượt xa giới hạn của tình đồng nghiệp trong công việc giữa cấp trên quản lý với cấp dưới, đó là tình cảm cha - con, thầy - trò sâu sắc. Hai gia đình vốn có mối thâm giao lâu đời từ thời ông nội thầy Sơn và cụ thân sinh ra thầy Bửu, hơn nữa con gái đầu của thầy Bửu lại là em dâu của GS. Sơn.
GS. Sơn nhớ mãi những Chủ nhật đến nhà thầy Bửu tại số 32 Hoàng Diệu để nhờ duyệt lại các bài báo khoa học tiếng Pháp, tiếng Anh chuẩn bị gửi đăng hoặc cùng thảo luận về các vấn đề mới trong toán học như lý thuyết toán tử, lý thuyết tai biến... Khu nhà của thầy Bửu sát khu nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giữa hai nhà chỉ có một bờ rào thấp với chiếc cổng nhỏ để hai gia đình đi lại thông nhau. GS. Sơn luôn kính phục khả năng tự học và làm việc bền bỉ của thầy Bửu. Ông kể rằng thầy Bửu luôn tranh thủ đọc sách chuyên môn trên ô tô trong mỗi chuyến công tác, bởi đó là lúc thầy thấy tâm mình bình lặng nhất.
Trong những dịp hiếm hoi đi công tác nước ngoài thời đó, ngoài công vụ chính, thầy Bửu luôn luôn quan tâm đến học thuật ở các nước bạn. Như trong một chuyến công tác ở Bắc kinh, thầy Bửu tìm được tập sách quý Teoria Abtomatov bằng tiếng Nga mới xuất bản, bày bán tại một quầy sách không thấy ai hỏi đến, thầy mua về giao cho thầy Sơn và GS. Phan Đình Diệu (lúc đó cũng là một giảng viên đại học trẻ mới ra trường) tổ chức thuyết trình trong một seminar về Lý thuyết Ô-tô-mát do Thầy chỉ đạo. Trên trang đầu quyển sách, thầy tự tay ghi 2 câu:
Tình cờ mua được ở TÂY AN
Chợ Tết chiều Xuân, một buổi nhàn…
Có lần, thầy Tạ Quang Bửu đưa cho thầy Sơn một cuốn sách Lý thuyết toán tử - Teoria Operatorov của tác giả Mikusinski viết bằng tiếng Ba Lan. Thầy Sơn ngỡ ngàng và bảo: “Em không biết tiếng Ba lan ạ”. Thầy Bửu bảo thầy Sơn hãy tự học ngoại ngữ này qua từ điển và sách ngữ pháp để hiểu mà dịch tài liệu. Thầy Bửu nói một câu khiến GS. Sơn nhớ mãi: “Tiếng Ba Lan viết theo tự mẫu la tinh, đọc lên lại nghe như tiếng Nga, đây là từ điển và sách ngữ pháp, cậu về tự nghiên cứu đi”.
Trên cơ sở tài liệu đó và những bài giảng của GS. Tạ Quang Bửu, thầy Sơn đã hoàn thành quyển sách “Đại số học các Toán tử” do NXB Khoa học & Kỹ thuật xuất bản năm 1964, phổ biến cho một số người giảng dạy và nghiên cứu Toán học thời ấy. Chính nhờ sự dẫn dắt của GS. Bửu, thầy Sơn đã rèn luyện được phong cách vượt khó để tự học, tự nghiên cứu trong môi trường thiếu sự giao lưu rộng rãi. Tổ Toán Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1957GS. Thái Thanh Sơn trân trọng lưu giữ những bức ảnh các thầy giáo khoa Toán Lý, Bách khoa Hà NộiGS. Thái Thanh Sơn trân trọng lưu giữ những bức ảnh các thầy giáo khoa Toán Lý, Bách khoa Hà Nội
Dấu ấn sâu đậm nhất của GS. Tạ Quang Bửu đối với thầy Sơn nói riêng và đối với nhiều thế hệ giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội là ở những việc làm cụ thể và những câu nói giản dị nhưng rất sâu sắc.
Ngay từ khi thầy Bửu chưa về làm Hiệu trưởng Đại học Bách khoa mà còn làm Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước, thầy đã tổ chức những seminar về Toán cho các giảng viên Trường Đại học Bách khoa, Tổng hợp, Sư phạm… Khi trao đổi với nhau trong seminar về các lĩnh vực nghiên cứu thầy có nói một câu mà thầy Sơn và các bạn của Thầy đã xem như một kim chỉ nam trọn đời cho mình:
“Giải được một bài toán khó do người khác ra cho mình đã là một điều khó khăn và rất đáng quý. Nhưng nếu qua đòi hỏi của thực tiễn, tự mình tìm ra một bài toán, để rồi tự giải được bài toán đó của mình và cho mình thì lại càng khó khăn và đáng quý hơn nữa.
Việc nghiên cứu Toán học ở Việt Nam đã có từ khá lâu trước khi trường Bách khoa ra đời, và cho đến nay cũng đã có một vài người Việt Nam có được một vài công trình nghiên cứu Toán học có giá trị tầm cỡ thế giới. Nhưng đó toàn là những nghiên cứu có tính chất lý luận hoặc là những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn của những đất nước khác.
Những lĩnh vực đó vẫn đang được tiếp tục phát triển trong giới Toán học trẻ Việt Nam, chủ yếu ở các Trường Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp... Thế nhưng, nghiên cứu Toán học ở Bách khoa các cậu cần phải có xu hướng khác đấy: Đó là xu hướng thiên về nghiên cứu ứng dụng”.
GS. Thái Thanh Sơn và người Thầy, người Anh dấu ấn rất rõ nét trong phần đời học Toán, làm Toán và dạy Toán của mình - GS. Hoàng Tụy
Lời nói của thầy Bửu cùng những ý kiến của thầy truyền đạt qua những buổi seminar chung tổ chức tại Ủy ban Khoa học Nhà nước đã tác động sâu sắc vào định hướng NCKH trong một số anh em làm Toán ở Bách khoa và một số cơ sở khác. Nhưng thời đó tư liệu NCKH trong nước vô cùng hiếm hoi. GS. Hoàng Tuỵ - khi đó mới bắt đầu làm NCS ở Liên Xô - đã hết sức nhiệt tình cung cấp một số bản microfilm, chụp lại các tư liệu có giá trị trong các thư viện lớn ở Liên Xô về các lĩnh vực: Xác suất và Thống kê toán học, Lý thuyết qui hoạch, Thuật toán tối ưu hoá. Lý thuyết đồ thị...
Không lâu sau thầy Tuỵ bảo vệ thành công luận án Phó TS ở Liên Xô và tiếp đó những công trình lớn của ông từ những năm 1964 như: “Tối ưu toàn cục” - Global Optimization, và “ Lát cắt Tuỵ” - TUY’s cut” và rồi việc nhận giải thưởng cao quý Caratheodory sau này vào năm 2011 đã đưa ông lên hàng đầu trong các nhà nghiên cứu Toán học ứng dụng. Tổ Vận trù học - Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Tổng hợp trong chuyến công tác: Qui hoạch Mạng lưới kho vận Lương thực ở các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ
- Chỉ đạo viên: Thầy Hoàng Tuỵ
- Tổ trưởng: Thầy Thái Thanh Sơn, Đại học Bách khoa Hà Nội
- Phó Tổ trưởng: Thầy Nguyễn Công Thuý, Đại học Tổng hợp
Dưới sự chỉ đạo của GS. Tạ Quang Bửu, thầy Hoàng Tuỵ đã đề xuất thành lập “Tiểu ban Toán học ứng dụng và Vận trù học” trực thuộc UB Khoa học Nhà nước, nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng Toán học vào các lĩnh vực: Giao thông Vận tải, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và nhất là một số bài toán về vận tải, thông tin liên lạc, bố trí hệ thống hậu cần trong quân đội, thời chiến...
Ban Chỉ đạo của Tiểu ban có sự tham gia cấp Thứ trưởng của Ủy ban Khoa học Nhà nước, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Lương thực - Thực phẩm, Bộ Nông nghiệp… và một số địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương… Thầy Hoàng Tuỵ trực tiếp làm Trưởng Tiểu ban. Thầy Thái Thanh Sơn cùng thầy Nguyễn Quang Thái (sau này là GS, Chủ tịch Hội Khoa học kinh tế Việt Nam) được cử làm Phó Trưởng Tiểu ban. Tổ Toán Bách khoa Hà Nội năm 1964 - 1965: Khoá 0, khoá 1, khoá 2, khoá 4
Ở Tổ Toán Bách khoa Hà Nội khi đó có một số người tham gia tích cực và hiệu quả như: PGS. Nguyễn Hồ Quỳnh, GV Lâm Khải Bình, PTS. Phạm Xuân Ninh và nhiều người khác. Tại Thư viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia hiện còn lưu giữ tác phẩm “Ngẫu nhiên và Xác suất” của tác giả Thái Thanh Sơn do NXB Khoa học xuất bản năm 1962. Đây là tác phẩm đầu tiên ở Việt Nam trình bày nhập môn vào một lĩnh vực Toán học ứng dụng quan trọng và phổ biến: Lý thuyết xác suất và Thống kê Toán học.
Chính những hoạt động mạnh mẽ và có hiệu quả trong lĩnh vực Toán học ứng dụng như thế đã mang đến cho tổ Toán Đại học Bách khoa Hà Nội phần thưởng cao quý là danh hiệu “Tổ Lao động Xã hội chủ nghĩa ngành Giáo dục” năm 1963. Bộ môn Toán trong dịp đón nhận danh hiệu Tổ Lao động Xã hội chủ nghĩa, năm 1963Tốp ca Tổ Toán, Đại học Bách khoa Hà Nội đoạt giải nhất liên hoan văn nghệ Liên hiệp Công đoàn Hà Nội 1964Tốp ca Tổ Toán, Đại học Bách khoa Hà Nội đoạt giải nhất liên hoan văn nghệ Liên hiệp Công đoàn Hà Nội 1964. Đệm ghi ta: Thái Thanh Sơn
Trong những năm 1970 - 1974, với sự chỉ đạo công tác của GS. Thái Thanh Sơn, các Tổ công tác Vận trù học và Toán ứng dụng của Đại học Bách khoa Hà Nội và các đơn vị phối hợp giữa tổ Toán Đại học Bách khoa Hà Nội với Bộ môn Toán ĐH Tổng hợp Hà Nội đã có một loạt công trình nghiên cứu thành công được ghi nhận trong các đề tài: Qui hoạch mạng lưới kho vận ngành lương thực ở đồng bằng Bắc bộ, Tối ưu hoá dây chuyền sản xuất và kiểm tra sản phẩm tại Xí nghiệp Dược phẩm T.Ư 2.
Đặc biệt, trong trận lụt thế kỷ năm 1971, trên công trường đắp đê Cống Thôn, Tổ công tác Vận trù học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội do GS. Sơn phụ trách đã được đích thân Phó Thủ tướng Đỗ Mười đề nghị tham gia vào Ban Tham mưu của Công trường, đánh giá rất cao hiệu quả công tác và báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ khen thưởng.
Khúc tráng ca Khu C và những ân tình giữa đại ngàn
Quãng thời gian sơ tán tại Khu C trong những năm kháng chiến chống Mỹ được GS. Thái Thanh Sơn gọi là “khúc tráng ca” của Bách khoa.
Khi chiến tranh lan rộng, Mỹ bắt đầu ném bom huỷ diệt ra miền Bắc, Nhà nước có chủ trương sơ tán các trường đại học ra khỏi Hà Nội. Ban đầu, trong những năm 1967 – 1968, Trường Bách khoa cũng như các trường đại học khác sơ tán về các khu B ở vùng ven: Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên… Thầy - trò sống nhờ nhà dân, lớp học thì học nhờ tại các nhà kho, đình miếu … hoặc trụ sở HTX nông nghiệp.
Đối với các trường khác như vậy là tạm ổn. Thế nhưng ở Đại học Bách khoa, ngoài các học phần lý thuyết, từ năm thứ hai có một khối lượng lớn môn thực hành, thực tập đòi hỏi CSVC: Phòng thí nghiệm, xưởng thực tập… và phải có điện! Những yêu cầu này không thể thực hiện vì xây dựng một khu vực có máy móc thiết bị tập trung như vậy rất dễ thành mục tiêu đánh phá của địch.
Nhưng Nghị quyết của Đảng bộ khi đó có đề ra là: “Trong bất kỳ hoàn cảnh, tình huống nào, phải đảm bảo công tác giảng dạy và đào tạo không suy giảm về khối lượng và chất lượng, sẵn sàng cung cấp những cán bộ kỹ thuật cao cấp cho cuộc chiến trước mắt và cho công cuộc tái thiết đất nước sau này”.
Hiệu trưởng Bách khoa hồi đó - thầy Hoàng Xuân Tùy - do thời gian công tác lâu dài trong quân đội ở vùng Tây Bắc và Việt Bắc, lại có vợ là bà Song Ninh - người dân tộc Tày, vì vậy rất am hiểu về vùng núi rừng phía Bắc - đã chủ trương đưa toàn bộ Trường lên vùng sâu ở biên giới phía Bắc, dọc theo con sông Kỳ Cùng để xây dựng một cơ sở đào tạo khá hoàn chỉnh, khang trang và tương đối độc lập, ít phụ thuộc vào dân. Một tiết học của sinh viên Vô tuyến điện, Bách khoa Hà Nội trong Hội trường Gốc đa Nà Lình, Lạng Sơn
Trường Đại học Bách khoa lúc ấy đã xây dựng một khu sơ tán - khu C, lấy bí danh là Trường Văn hoá Hà Huy Tập, Lạng Sơn - dựng những khu lán sinh hoạt và phòng học bằng tre nứa do cán bộ và sinh viên tự vào rừng khai thác, tự xây dựng các trạm phát nhiệt điện “Lô cô” sử dụng đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước đã thôi sử dụng của bên Tổng Cục Đường sắt, các trạm “Thuỷ điện chuỗi” là những dự án nghiên cứu của cán bộ giảng dạy trong trường và các phòng thí nghiệm ổn định dưới tán rừng đại ngàn để đảm bảo việc thực tập kỹ thuật an toàn và đảm bảo chất lượng.
Nhờ khả năng nói tiếng Tày trôi chảy nên dù GS. Sơn đang phụ trách đoàn cán bộ biệt phái sang Học viện Kỹ thuật quân sự, thầy Hiệu trưởng Hoàng Xuân Tuỳ vẫn đề nghị Bộ Quốc phòng và Bộ Đại học cho rút GS. Sơn về tham gia tổ tiền trạm của Bách khoa lên Lạng sơn chuẩn bị cho việc thành lập Trường Văn hoá Hà Huy Tập.
Từ đó GS. Sơn trở thành cầu nối quan trọng giữa Bách khoa và địa phương. Sau một thời gian tiếp xúc và làm việc, bà con dân tộc Tày - Nùng ở Lạng Sơn đã dành cho ông một sự tin yêu tuyệt đối. Do GS. Sơn sử dụng ngôn ngữ dân tộc nhuần nhuyễn nên bà con hiểu nhầm và thường tự hào bảo nhau rằng thầy giáo này là “người Tày ta mà lại dạy học trò người Kinh”!
Khu C cũng là nơi chứng kiến những câu chuyện tình cảm hồn nhiên của những người trí thức trẻ. Chính tại vùng rừng núi ấy, ông đã gặp và yêu người vợ hiện tại - khi đó là một nữ sinh khóa 12 ngành Vô tuyến vào trường năm 1967. Những bức thư tay, những cân đường hay hộp bánh bích quy gia đình sinh viên nhờ các thầy mang từ hậu phương lên đã biến các thầy thành “shipper đường dài” và cũng một số trường hợp đã trở thành những sợi dây gắn kết tình yêu. Từ đám cưới "Thầy và Em" đến tổ ấm của GS. Thái Thanh Sơn
Đám cưới của “Thầy và Em” diễn ra giản dị ngay tại khu nhà nhà sàn, tiệc mừng chỉ có chè sắn mật ong rừng nhưng rộn rã tiếng cười vui của bạn bè và dân bản, mãi đến năm 1971 khi trường đã trở lại Hà Nội mới có điều kiện “chính thức tổ chức lại” đông vui như một ngày hội tại Nhà ăn 1 Tháng 5 trong khu trường cũ. Mãi đến nay, nhiều người vẫn còn nhớ đến ngày “HỘI CƯỚI” gần 60 năm trước đó.
Thời gian này tại đây cũng có những câu chuyện dở khóc dở cười, như trường hợp một bạn đồng nghiệp Toán học của ông suýt bị một cô gái Tày “bắt rể”, chỉ vì vô ý vẽ hình hoa hồng trang trí đẹp mắt trên một phong thư rồi trao tặng cho cô gái, anh giáo viên trẻ đã vô tình thực hiện đúng tục lệ ngỏ lời của địa phương. Thầy Sơn đã phải đóng vai “cố vấn” để giải quyết vụ việc, giúp người bạn chuyển công tác từ Na Sầm lên Thất Khê, tránh việc bị nhà gái bắt vạ! (Phải đền em một con trâu chàng ơi!)
Những chi tiết ấy khắc họa một Bách khoa đầy sức sống với khoa học và đời thường hòa quyện vào nhau một cách kỳ diệu. Tình cảm của người dân nơi đây đối với Bách khoa rất bền chặt. Những anh bí thư đảng ủy, chủ tịch xã khi GS. Sơn và cán bộ, sinh viên Bách khoa lên thăm sau này, vốn là thế hệ chỉ mới được sinh ra sau khi Bách khoa đã rời đi, nhưng họ vẫn mang một niềm tự hào mãnh liệt về việc ngôi trường lớn nhất miền Bắc đã từng đóng chân tại mảnh đất quê hương mình, như là một bộ phận thân thiết của bản làng mình: “Mấy đứa Bách khoa bản tôi!”. GS. Thái Thanh Sơn (thứ 3 từ trái sang) trong một chuyến đi thăm lại khu CGS. Thái Thanh Sơn cùng đoàn cán bộ, giảng viên kỷ niệm 40 năm thầy - trò khoa Điện, Đại học Bách khoa Hà Nội trở lại dòng sông Kỳ Cùng (Tràng Định, Lạng Sơn, 2024)
Đây là một tình cảm chân thành và sâu nặng giữa một cơ quan trường học với nơi sơ tán ngày xưa, không phải dễ dàng xây dựng và gìn giữ vững bền qua năm tháng.
Những năm xa Bách khoa
Năm 1966, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết liệt, Nhà nước quyết định thành lập một trường đại học kỹ thuật quân sự, ban đầu lấy bí danh là “Phân hiệu 2 Đại học Bách Khoa”. Bộ khung lãnh đạo từ cấp trường, Khoa, Bộ môn... đều được Bộ Quốc phòng chọn lựa, phân công trách nhiệm theo cấp bậc. Sinh viên năm thứ nhất tuyển chọn trong số bộ đội tốt nghiệp trung học khá giỏi, mới nhập ngũ vài năm và còn ra lệnh “động viên” cả một khoá sinh viên Vô tuyến điện Đại học Bách khoa khoá 9 sang tiếp tục học năm thứ 2 ở phân hiệu. Cơ sở trường lớp thì lúc đó vẫn tạm sơ tán nhờ trong dân như các trường đại học khác… Cái thiếu và khó duy nhất lúc đó là… thầy. Lễ công bố Quyết định chính thức thành lập Học viện Kỹ thuật Quân sự ngày 28/10/1066, có sự tham dự của GS. Tạ Quang Bửu - Bộ trưởng Bộ ĐH & THCN, Đại tá Phạm Ngọc Mậu - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân đội, Đại tá Đặng Quốc Bảo ...GS. Thái Thanh Sơn cùng các đồng đội kỷ niệm 50 năm Bộ môn Toán Phân hiệu II, Đại học Bách khoa (8/1996 - 8/2016)
Thầy Tạ Quang Bửu khi đó đang làm Bộ trưởng Bộ Đại học nhưng vẫn là người có uy tín và có ý kiến đầy trọng lượng đối với cả Trường Bách khoa và Bộ Quốc phòng. GS. Sơn được chỉ định làm Trưởng Đoàn biệt phái gồm 16 cán bộ giảng dạy của Bách khoa và 3 cán bộ giảng dạy của Trường Đại học Tổng hợp, biệt phái sang xây dựng bộ máy giảng dạy ban đầu tại Học viện Kỹ thuật Quân sự - như đã làm 10 năm trước tại Đại học Bách khoa.
Ở tuổi 32, theo mức lương hiện hưởng ông được chuyển sang cấp quân hàm Thiếu tá. Ông nhớ lại những ngày nhận thêm phụ cấp quân đội là những cân đường và hộp lương khô và cái phiếu cung cấp mấy lít xăng hàng tháng cực kỳ quý giá!
Trong mấy năm công tác, đoàn cán bộ biệt phái Bách khoa đóng góp rất lớn vào công tác giảng dạy và quản lý đào tạo tại Học viện, đặt nền móng cho việc thực hiện thành công một số đề tài ứng dụng Toán học trong các lĩnh vực như quốc phòng, giao thông, quân sự…
Từ năm 1980, Nhà nước chủ trương cử chuyên gia giáo dục đại học đi làm việc tại một số nước châu Phi như một cách đền đáp nghĩa tình quốc tế. Thầy Sơn lại được Bộ Đại học cử làm Trưởng Đoàn chuyên gia ở Madagascar trong nhiệm kỳ 1982-85. Đoàn có 26 người, có cả chuyên gia giáo dục đại học và chuyên gia y tế. Với những đóng góp xuất sắc của mình cho nước bạn trong giảng dạy và NCKH, thầy Thái Thanh Sơn được Tổng thống Madagascar trực tiếp gặp mặt, đánh giá rất cao những cống hiến của thầy. Tổng thống đề xuất với Hội đồng Khoa học Đại học Bách Khoa Antananarivo đặc cách phong hàm GS. thực thụ (Professeur titulaire de chaire) cho thầy Sơn năm 1984. GS. Thái Thanh Sơn là người duy nhất bảo vệ luận án Tiến sĩ sau khi đã được phong học hàm GS ở nước ngoài và PGS trong nước
Khi trở về nước, với những cống hiến của mình cho ngành Toán tin nói riêng, ngành giáo dục nước nhà nói chung, GS. Thái Thanh Sơn được Nhà nước đặc cách phong hàm PGS (năm 1988). Tuy nhiên, thời điểm đó có nhiều ý kiến cho rằng ông chưa có bằng tiến sĩ mà đã được phong hàm PGS.
Vì vậy, thầy đã đăng ký và trong vòng 6 tháng đã bảo vệ xuất sắc thành công luận án Tiến sĩ. Đây cũng là điều đặc biệt ở GS. Thái Thanh Sơn. Thầy là người duy nhất bảo vệ luận án Tiến sĩ sau khi đã được phong học hàm GS ở nước ngoài và PGS trong nước. Năm 2001, đến tuổi nghỉ hưu, Thầy được Chính phủ quyết định đặc cách nâng lên ngạch GS - Giảng viên Cao cấp bậc cao nhất.
Hạt gạo nghĩa tình và bản sắc người Bách khoa trong gian khó
Năm 1986, đất nước trong thời kỳ bao cấp vô cùng khó khăn. Mà sắp đến Tết, gạo nếp trên thị trường rất hiếm, nếu có thì lương cán bộ công nhân viên không thể mua nổi!
Hồi thầy Sơn công tác tại Bộ Tư lệnh Quân khu 9 ở Cần Thơ trong đề tài ứng dụng Toán học tối ưu hoá một số hệ thống bố phòng biên giới cho quân đội, thầy thấy gạo miền Tây bán tự do vừa ngon vừa rẻ. Bản thân là một cán bộ trong Thường vụ, Phó Chủ tịch Công đoàn Trường, thầy Sơn suy nghĩ tìm phương án gạo Tết cho toàn thể hơn 2.000 cán bộ công nhân viên Bách khoa.
Thầy Sơn cùng một cán bộ công đoàn Bách khoa khác là thầy Đoàn Phú trao đổi, tìm phương án rồi báo cáo Thường vụ Công đoàn, thống nhất chủ trương với lãnh đạo Trường. Nhà trường và Công đoàn thống nhất “ Biếu quà Tết” cho mỗi người trong tổng số 2.000 cán bộ công nhân viên được 10 cân gạo nếp và 10 cân gạo tẻ ngon.
Mấy ngày trước khi đoàn tàu về đến ga Giáp Bát, nhiều gia dình đã cử người thay nhau “tình báo” xem khi nào thì “Gạo ông Sơn, ông Phú” về. Suốt mấy ngày sau đó, cửa hàng “Hợp tác xã” của Công đoàn hoạt động hết công suất 3 ca/ngày để phát quà cho đoàn viên.
Câu chuyện “gạo Công đoàn, gạo ông Sơn, ông Phú” đã trở thành một kỷ niệm ấm lòng về sự sáng tạo, sẻ chia lúc khó khăn của người Bách khoa. Những hạt nếp thơm tho, gạo tẻ trắng ngần ấy không đơn thuần là lương thực, chúng là biểu tượng của tình đồng chí, của sự xoay xở và đùm bọc lẫn nhau vượt qua thiếu thốn. GS. Thái Thanh Sơn vẫn luôn tự hào rằng đó là một trong những việc làm nhỏ bé nhưng mang lại niềm vui lớn nhất cho hàng nghìn con người Bách khoa, minh chứng cho tinh thần “Bách khoa là nhà”.
Bách khoa trong tâm khảm GS. Thái Thanh Sơn còn là một thực thể khổng lồ đã từng sẻ chia sự sống cho nhiều ngôi trường khác. Từ Bách khoa đã hình thành nên Trường Đại học Thủy lợi, Trường Đại học Mỏ - Địa chất và Trường Đại học Xây dựng.
Dưới sự lãnh đạo của thầy Hiệu trưởng Hoàng Trọng Yêm vào khoảng năm 1990 - 1992, Bách khoa đã thực hiện một cuộc thí nghiệm táo bạo khi tổ chức thành 5 trường nhỏ bên trong. ( Thực chất là hướng đến mô hình Đại học như hiện nay). GS. Thái Thanh Sơn khi ấy giữ chức Giám đốc Trường Đại học Đại cương, quản lý toàn bộ sinh viên 2 năm đầu. Dù mô hình này chỉ tồn tại 2 năm, nhưng đây vẫn là một minh chứng cho tinh thần đổi mới không ngừng của người Bách khoa.
Ở tuổi 92 , GS. Sơn luôn theo dõi tình hình quản lý giáo dục đại học hiện nay. Giá trị Bách khoa, theo ông, nằm ở cái “chất” con người, ở sự nể trọng của thế giới khi nhìn vào tấm bằng tốt nghiệp của sinh viên, điều mà không tiền bạc hay thế lực nào có thể mua được.
Ngọn lửa truyền nối và di sản cho hậu thế GS. Thái Thanh Sơn vẫn luôn đồng hành, tâm huyết đóng góp ý kiến để Đại học Bách khoa Hà Nội ngày càng phát triển, vươn tầm
Suốt 70 năm gắn bó, đồng hành cùng Đại học Bách khoa Hà Nội, GS. Thái Thanh Sơn luôn coi Bách khoa là ngôi nhà lớn của cuộc đời mình. Ngôi trường đã cho ông một môi trường rèn luyện để tự lập và tỏa sáng. Sau khi về hưu trong một thời gian dài hàng chục năm GS Thái Thanh Sơn vẫn tiếp tục làm nghiên cứu, giảng day, hướng dẫn NCS, tham dự đều đặn nhiều hội nghị và tổ chức khoa học quốc tế. Ở tuổi 92, ông vẫn miệt mài hướng dẫn NCS online, viết bài đều đặn và cập nhật những kiến thức khoa học mới nhất, giao lưu qua mạng xã hội và không ngừng đóng góp cho nền giáo dục nước nhà.
Phong độ làm việc của ông ở độ tuổi U100 cho thấy cho một tinh thần tự học không ngừng nghỉ, một phẩm chất quý báu mà ông đã học được từ người thầy - GS. Tạ Quang Bửu.
Những kỷ vật trong nhà ông, từ những đồ kỷ niệm thời ở Quân khu 5 đến hàng nghìn cuốn sách ngoại văn mà ông đã tặng lại cho Trung tâm Di sản các nhà khoa học đều cho thấy một cuộc đời tận hiến. Ông tặng sách vì lo sau khi mình nằm xuống, tài sản trí tuệ cả đời tích lũy sẽ bị rơi rụng.
Bách khoa trong lòng vị giáo sư già không phải là những khối bê tông hay những phòng thí nghiệm khô khan. Đó là gương mặt của những người thầy vĩ đại mà thân thương như thầy Trần Đại Nghĩa, thầy Tạ Quang Bửu, thầy Hoàng Xuân Tùy…; là tiếng cười rộn rã bên nồi sắn luộc Khu C; là mùi hương thơm ngát của những hạt gạo miền Tây nghĩa tình... GS. Thái Thanh Sơn trong buổi phỏng vấn tại Đại học Bách khoa Hà Nội (8/2026)Niềm vui của GS. Thái Thanh Sơn bên vợ và các con, cháuNiềm vui của GS. Thái Thanh Sơn bên vợ và các con, cháu
Hướng tới Kỷ niệm 70 năm thành lập Bách khoa Hà Nội vào tháng 10/2026, GS. Thái Thanh Sơn mong ngọn lửa của sự kiên trì, tinh thần tự học và tình yêu thương đồng chí sẽ tiếp tục cháy mãi trong trái tim mỗi thế hệ sinh viên, rạng rỡ và kiêu hùng như những ngày đầu thành lập.
Với GS. Thái Thanh Sơn, Bách khoa sẽ mãi là nơi tình yêu và niềm tự hào bắt đầu, một ngọn hải đăng của tri thức luôn rực sáng giữa dòng chảy lịch sử của dân tộc. Bảy thập kỷ trôi qua, ngọn lửa từ 28 con người đầu tiên ấy vẫn đang được ông nâng niu, sẵn sàng trao lại cho những bàn tay kế cận với tất cả niềm tin yêu và kỳ vọng vào một tương lai rạng rỡ hơn nữa của Đại học Bách khoa Hà Nội.
Bắt tay tiễn chúng tôi ra về, GS. Thái Thanh Sơn khẽ ngâm 2 câu thơ, muốn nói lên nỗi lòng sâu lắng của mình với Đại học Bách khoa Hà Nội: