Đại học Bách khoa Hà Nộihttps://hust.edu.vn/uploads/sys/logo-dhbk-1-02_130_191.png
Thứ năm - 01/10/2026 21:00
Sau mốc son lịch sử 30/4/1975, khát vọng cháy bỏng về một đất nước hòa bình, thống nhất của nhân dân Việt Nam trở thành hiện thực. Trong công cuộc tái thiết và dựng xây đất nước, việc chi viện nhân lực cho miền Nam được đặt lên ưu tiên hàng đầu. Là cái nôi đào tạo kỹ thuật lớn nhất cả nước, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (nay là Đại học Bách khoa Hà Nội) đã tiên phong cử nhiều giảng viên, cán bộ ưu tú tình nguyện trở lại quê hương, lên đường vào Nam cống hiến tri thức và tâm huyết.
Xin "xác" ô tô, trực thăng về “mổ” cho sinh viên học Cố PGS. Lý Ngọc Sáng. Ảnh: Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng
Cuối tháng 4/1975, các thầy Lý Ngọc Sáng, Trần Ngọc Chương và Nguyễn Đức Cán (giảng viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp cùng Ban Thống nhất Trung ương triệu tập, gia nhập đoàn cán bộ đi tiếp quản các trường đại học phía Nam sau ngày giải phóng.
Sau khóa học chính trị ngắn ngày, đoàn tiếp quản lên đường bằng xe tải quân sự, ngày nghỉ đêm đi, tuân thủ đúng chế độ B như thời chiến gian khổ. Đoàn dừng chân chờ ở binh trạm giới tuyến 2 ngày, làm thủ tục điểm danh từng người trước khi bước qua cầu Hiền Lương vượt giới tuyến.
Lúc sinh thời, cố PGS. Nguyễn Đức Cán từng xúc động nhớ lại thời khắc ấy: “Khi đi qua cầu Mỹ Chánh, nơi tôi sinh ra và cũng đã xa cách 35 năm, xe chỉ thoáng chạy qua khoảng 10 phút. Tôi xúc động, lệ nhòa, mở to mắt nhìn mà không thấy được gì”. Cố PGS. Nguyễn Đức Cán. Ảnh: Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng
Thời điểm đó, Đà Nẵng chưa có trường đại học nào, ngoại trừ đề án của chính quyền cũ dự định thành lập một trường đại học cộng đồng theo mô hình Mỹ. Nơi đây chưa có trụ sở, chưa có giáo chức, nhân viên cũng như sinh viên; một số ít bộ máy điều hành lâm thời cũng đã di tản. Cùng với thầy Nguyễn Phiên trở về từ chiến khu, 3 người thầy thuộc Bách khoa Hà Nội gồm cố thầy giáo Lý Ngọc Sáng, thầy Trần Ngọc Chương và cố PGS. Nguyễn Đức Cán đã tạo thành “bộ tứ” đặt nền móng thành lập, tổ chức, gấp rút xây dựng trường. Ngôi trường được gầy dựng theo mô hình hoàn toàn mới ở miền Trung với đa ngành công nghệ và kinh tế.
Lễ khai giảng Khóa I (ngày 29/3/1976) diễn ra đúng dịp kỷ niệm 1 năm ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng với 329 sinh viên trúng tuyển vào 3 khoa chuyên ngành: Cơ khí, Điện và Kinh tế. Trước đó 4 tháng, hệ dự bị đã bước vào khóa học với 300 học sinh.
Tháng 11/1975, giảng viên trẻ Nguyễn Ngọc Diệp nhận phân công vào giảng dạy tại Viện Đại học Đà Nẵng - cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được thành lập sau giải phóng. Đã giảng dạy tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 7 năm và vừa mới lập gia đình, thầy Diệp nhớ lại khoảnh khắc nhận nhiệm vụ tăng cường vào miền Nam: “21 năm xa quê hương, cầm quyết định trên tay mà lòng bồi hồi xúc động. Khi quê hương còn chiến tranh, khói lửa, tôi được gửi ra miền Bắc học tập. Nay hòa bình, thống nhất đất nước, con em miền Nam chúng tôi mong sớm được trở về làm việc và cống hiến”.
Theo lời kể của thầy Diệp, cơ sở ban đầu chỉ có một giảng đường 4 tầng cùng 2 nhà xưởng gần như trống trơn. Xung quanh trường bạt ngàn cát trắng, dây thép gai chằng chịt, thỉnh thoảng bộ đội lại tới dọn mìn. Thiết bị phục vụ giảng dạy vô cùng thiếu thốn. Các thầy phải sang Quân khu V xin xe ô tô, xác máy bay của chế độ cũ để lại rồi mang về “mổ” ra từng bộ phận dạy sinh viên.
Có lần, đoàn cán bộ vào tận sân bay Chu Lai chở máy bay trực thăng về làm dụng cụ thực tập. Các giảng viên đã thức gần trắng đêm tìm cách tháo cánh quạt của trực thăng vì cơ phận này quá lớn, không lọt qua cổng sân bay. GS. Bùi Văn Ga - nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT - là sinh viên khóa 1 Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng đã được gửi ra Trường Đại học Bách khoa Hà Nội gần 4 tháng để thực tập cuối khóa và làm đồ án tốt nghiệp
Là sinh viên khóa 1 của Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, GS. Bùi Văn Ga - nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - xúc động nhớ lại: “Câu chuyện các thầy đi nhặt, đi xin linh kiện nằm trong cơ phận của phương tiện, khí tài chiến tranh ở các vựa phế liệu, sau đó về lắp ráp nên những modun, mô hình thí nghiệm đầu tiên, giúp sinh viên có điều kiện thực hành, mãi mãi thật đáng trân trọng”.
Đặc biệt, nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo tốt nhất cho thế hệ sinh viên đầu tiên của miền Nam giải phóng, phần lớn sinh viên khóa 1 của Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng đã được gửi ra Trường Đại học Bách khoa Hà Nội gần 4 tháng để thực tập cuối khóa và làm đồ án tốt nghiệp. Những sinh viên khóa 1 ấy đã đồng lòng chia sẻ gian khó với nhà trường: Ở nhà vòm bằng tôn dã chiến, sinh hoạt tại khu gia binh Hòa Khánh; khi ra Thủ đô học tập tại Bách khoa Hà Nội, các anh lại ở tạm trong các nhà tranh tre nứa lá, kiên cường vượt qua những đợt gió bấc mưa phùn lạnh lẽo.
“Hội Không khóa” và ngọn lửa Bách khoa Hà Nội lan tỏa
“Hội Không khóa” là danh xưng tự hào của các thầy cô, các sinh viên tốt nghiệp ở nước ngoài và từ các trường đại học lớn như Bách khoa Hà Nội, Tổng hợp Hà Nội, Kinh tế Quốc dân, Bách khoa TP.Hồ Chí Minh… hội tụ về giảng dạy tại Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng trong chặng đường 1975 - 1980. Họ gắn bó với nhà trường từ ngày đầu gầy dựng, dù không xuất thân là sinh viên của trường.
Là một trong 6 sinh viên khóa 16 tốt nghiệp loại giỏi được giữ lại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội làm giảng viên. Tháng 5/1977, thầy Nguyễn Văn Yến được phân công vào dạy tại Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Thầy Yến kể: “Ngày đó, việc chi viện cho miền Nam được ưu tiên hàng đầu. Trong số sinh viên tốt nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn trở thành cán bộ giảng dạy, các trường miền Nam được lựa chọn cán bộ trước. Những người đi miền Nam được cấp bằng tốt nghiệp đại học ngay, được cấp tiền và vé máy bay đi B. Sinh viên khi ấy ít lắm, tổng cộng chưa tới 40 người. Đa số sinh viên chỉ kém tôi 4 - 5 tuổi, có một số bằng hoặc nhiều tuổi hơn tôi”. Đại học Bách khoa Hà Nội mãi tự hào về những người thầy, những cán bộ đã gieo mầm tri thức, mang ngọn lửa Bách khoa đi khắp mọi miền Tổ quốc, viết nên bài ca cống hiến vì sự nghiệp giáo dục đại học nước nhà
Sức hút cống hiến kêu gọi con em miền Nam trở về quê hương, đồng thời thôi thúc nhiều sinh viên, trí thức ưu tú từ miền Bắc lựa chọn phương Nam làm nơi công tác. Tháng 2/1978, sau khi tốt nghiệp tại Liên Xô trở về, anh Đinh Minh Diệm được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp bố trí công tác tại Nhà máy cơ khí ô tô, máy kéo ở Thái Nguyên làm phiên dịch. Dẫu vậy, khi tiếp xúc với đại diện Phòng Tổ chức của Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, anh đã quyết định thay đổi ý định.
Miền Nam lúc bấy giờ tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt đối với những người trẻ khao khát cống hiến và dấn thân thử thách.
NGƯT Nguyễn Ngọc Diệp đánh giá: “Lớp cán bộ trẻ này đầy năng lượng, nghiêm túc trong công tác chuyên môn, hăng hái tham gia vào phong trào tuổi trẻ đang rất sôi nổi của những ngày quê hương vừa mới có cuộc sống hòa bình”.
Nhìn lại lịch sử, “Hội Không khóa” đại diện cho những hạt nhân trẻ giàu năng lực, trí tuệ và nhiệt huyết. Cùng với đội ngũ cán bộ từ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cùng các trường đại học miền Bắc chi viện, họ đã đặt nền móng vững chắc, đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nên sự lớn mạnh của Trường Đại học Bách khoa (Đại học Đà Nẵng), Trường Đại học Kinh tế, góp phần khẳng định vị thế của các trung tâm đại học hàng đầu như Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa (ĐHQG TP.HCM), Đại học Kinh tế Quốc dân ngày nay.
Hướng tới kỷ niệm 70 năm thành lập (1956 - 2026), Đại học Bách khoa Hà Nội mãi tự hào về những người thầy, những cán bộ đã gieo mầm tri thức, mang ngọn lửa Bách khoa đi khắp mọi miền Tổ quốc, viết nên bài ca cống hiến vì sự nghiệp giáo dục đại học nước nhà.